(FDI Việt Nam) – Doanh nghiệp dân tộc đóng vai trò quan trọng trong các dự án lớn, thể hiện chủ trương đúng đắn của Chính phủ. Các quốc gia thành công trong công nghiệp hóa đều ưu tiên chính sách phát triển doanh nghiệp trong nước, tạo điều kiện cho họ tham gia vào các lĩnh vực trọng điểm, thúc đẩy nền kinh tế tự chủ và bền vững.

doanh nghiệp dân tộc
Khát vọng doanh nghiệp dân tộc trong kỷ nguyên mới – Ảnh minh họa

Cuối tháng 2/2025, Văn phòng Chính phủ đã ban hành Thông báo số 52/TB-VPCP, kết luận của Thường trực Chính phủ tại Hội nghị gặp gỡ doanh nghiệp, tập trung vào nhiệm vụ và giải pháp giúp doanh nghiệp tư nhân tăng tốc phát triển, góp phần xây dựng nền kinh tế bền vững trong kỷ nguyên mới.

Một trong những nội dung quan trọng được nhấn mạnh trong Thông báo là yêu cầu các Bộ, cơ quan liên quan trong Quý II/2025 phải nghiên cứu, đề xuất giải pháp giao nhiệm vụ, đặt hàng các doanh nghiệp dân tộc tham gia triển khai các dự án lớn.

Những lĩnh vực được ưu tiên bao gồm xây dựng đường sắt tốc độ cao (đường ray, sản xuất toa tàu), đào hầm, làm đường, phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, năng lượng tái tạo, và khí hydrogen.

Theo các chuyên gia, chính sách này sẽ tạo động lực mạnh mẽ cho nền kinh tế, thúc đẩy các doanh nghiệp dân tộc nâng cao năng lực sản xuất, đẩy mạnh đầu tư vào khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và nghiên cứu phát triển.

Đồng thời, đây cũng là cơ hội để doanh nghiệp trong nước mở rộng hợp tác thực chất, cùng có lợi với các đối tác quốc tế, góp phần nâng cao vị thế kinh tế Việt Nam.

Trường hợp Hòa Phát: Bài học về sự vươn lên của doanh nghiệp dân tộc

Tháng 4/2024, thông tin Hòa Phát, một doanh nghiệp dân tộc, đang nghiên cứu sản xuất đường ray cho tuyến đường sắt tốc độ cao đã gây bất ngờ lớn trong dư luận và giới chuyên gia.

Dù thiết kế đường ray không quá phức tạp, nhưng để tạo ra loại thép có thể đáp ứng yêu cầu kỹ thuật khắt khe của tàu cao tốc lại đòi hỏi trình độ công nghệ vật liệu tiên tiến.

Khi đó, ban lãnh đạo Hòa Phát thừa nhận rằng sản xuất ray thép cho đường sắt tốc độ cao là một thách thức lớn, song doanh nghiệp sẵn sàng đương đầu với khó khăn. Và họ đã chứng minh điều đó bằng hành động thực tiễn.

Chỉ sau hơn nửa năm, Hòa Phát đã có những bước đi vững chắc để hiện thực hóa tham vọng này. Tập đoàn đã khởi động quá trình đàm phán, hợp tác với các đối tác châu Âu nhằm tiếp nhận chuyển giao công nghệ và kỹ thuật sản xuất ray thép đạt chuẩn cho đường sắt tốc độ cao.

Đồng thời, dự án xây dựng nhà máy sản xuất thép chất lượng cao phục vụ dự án đường sắt tại Phú Yên cũng đang được triển khai các thủ tục đầu tư.

Đây là minh chứng cho thấy tiềm lực và quyết tâm của doanh nghiệp dân tộc trong việc tham gia các dự án trọng điểm, góp phần thúc đẩy nền kinh tế tự chủ và bền vững.

doanh nghiệp dân tộc
Thủ tướng Phạm Minh Chính tham quan quy trình cán thép của Hòa Phát – Ảnh: VGP

Chuyến thăm và làm việc của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tại Công ty cổ phần Thép Hòa Phát Dung Quất, thuộc Tập đoàn Hòa Phát, vào ngày 9/2/2025 đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng.

Trong buổi làm việc, Thủ tướng khuyến khích tập đoàn tiếp tục nghiên cứu, sản xuất ray thép cho đường sắt tốc độ cao, khẳng định vai trò của doanh nghiệp dân tộc trong việc tham gia vào các dự án trọng điểm quốc gia.

Sự kiện này không chỉ là dấu mốc đối với Hòa Phát mà còn thể hiện tiềm lực của các doanh nghiệp dân tộc trong việc làm chủ công nghệ, tiếp thu, chuyển giao kỹ thuật tiên tiến để thực hiện những nhiệm vụ khó trong các dự án quy mô lớn.

PGS.TS Nguyễn Hồng Thái, Trưởng khoa Vận tải Kinh tế, Trường Đại học Giao thông Vận tải, Phó Chủ tịch Hội Kinh tế vận tải đường sắt Việt Nam, bày tỏ sự ủng hộ đối với khát vọng lớn của doanh nghiệp.

Dù thừa nhận rằng đây là một thách thức không nhỏ, đặc biệt về mặt công nghệ, nhưng ông tin rằng các doanh nghiệp dân tộc hoàn toàn có thể chinh phục những lĩnh vực khó, góp phần thúc đẩy nền công nghiệp trong nước phát triển.

Tuy nhiên, theo các chuyên gia, quá trình tiếp cận và làm chủ công nghệ hiện nay đã có nhiều thay đổi so với trước đây. Doanh nghiệp dân tộc không nhất thiết phải bắt đầu từ con số 0 hay tự mình nghiên cứu từng bước để đạt đến trình độ mong muốn.

Thay vào đó, họ có thể tận dụng các phương thức hợp tác và chuyển giao công nghệ, giúp rút ngắn lộ trình phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường.

“Doanh nghiệp trong nước phải tìm cách kế thừa các thành tựu, kết quả nghiên cứu của các quốc gia phát triển trên thế giới. Về mặt nhân lực, nếu có chính sách thu hút và đãi ngộ thích hợp, họ có thể mời chuyên gia nước ngoài tới Việt Nam làm việc, hỗ trợ đào tạo cho đội ngũ nhân lực trong nước có thể tiếp thu, làm chủ và vận hành các công nghệ mới, để tạo ra các sản phẩm đáp ứng mục tiêu đầu tư”, PGS.TS Nguyễn Hồng Thái gợi ý.

Các chuyên gia đánh giá cao chủ trương của Chính phủ trong việc giao nhiệm vụ, đặt hàng doanh nghiệp dân tộc tham gia triển khai các dự án lớn. Nếu thực hiện tốt, chính sách này sẽ mang lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế, thúc đẩy sự phát triển bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước.

Trước hết, khi nắm vững các công nghệ phức tạp, doanh nghiệp dân tộc sẽ nâng cao trình độ sản xuất, mở ra nhiều cơ hội mới về sản phẩm và thị trường.

Điển hình như trường hợp Hòa Phát – khi doanh nghiệp này sản xuất thành công thép làm ray cho dự án đường sắt tốc độ cao tại Việt Nam, họ không chỉ phục vụ nhu cầu trong nước mà còn có thể mở rộng sản xuất thép chất lượng cao cho các công trình hạ tầng khác và tham gia đấu thầu các dự án quốc tế.

Bên cạnh đó, việc doanh nghiệp dân tộc đảm nhận những hợp phần quan trọng trong các dự án lớn sẽ tạo ra hàng loạt cơ hội việc làm chất lượng cao cho người lao động Việt Nam. Điều này đặt ra yêu cầu nâng cao tay nghề và kỹ năng chuyên môn, đồng thời góp phần cải thiện chất lượng nguồn nhân lực trong nước.

Cuối cùng, khi các doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao và những sản phẩm có độ khó lớn, họ không chỉ khẳng định năng lực cạnh tranh mà còn thúc đẩy sự phát triển của hệ sinh thái nghiên cứu, đào tạo và đổi mới sáng tạo tại Việt Nam. Đây chính là nền tảng quan trọng giúp nền kinh tế tự chủ và bứt phá mạnh mẽ trong tương lai.

“Tự chủ về công nghệ là điều ai cũng mong muốn. Tuy nhiên, với từng dự án cụ thể, chúng ta xác định nên tự chủ ở mức nào, trong những giai đoạn nào để vừa phù hợp với trình độ, năng lực của doanh nghiệp, vừa đạt được hiệu quả tối ưu. Doanh nghiệp cần sự đồng hành của các nhà quản lý, từ quan điểm chỉ đạo, cơ chế khuyến khích, hỗ trợ để có thể bước tới thành công”, PGS.TS Nguyễn Hồng Thái kiến nghị.

Bước đi theo thông lệ quốc tế

PGS.TS Nguyễn Chiến Thắng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu châu Âu, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, cho rằng việc đặt hàng doanh nghiệp dân tộc tham gia vào các dự án lớn là một chủ trương quan trọng, phù hợp với bối cảnh hiện nay, khi nền kinh tế Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức cần giải quyết.

Thứ nhất, việc phát triển một nền kinh tế độc lập, tự chủ trở nên cấp thiết trong bối cảnh thế giới đầy biến động, phân mảnh và cạnh tranh địa chính trị gay gắt. Những tác động tiêu cực từ môi trường quốc tế đang ảnh hưởng đến kinh tế toàn cầu, trong đó có Việt Nam – một nền kinh tế có độ mở cao và hội nhập sâu rộng.

Hiện nay, các doanh nghiệp FDI chiếm tỷ trọng lớn trong xuất khẩu, trong khi phần lớn doanh nghiệp dân tộc vẫn là doanh nghiệp nhỏ và vừa, hạn chế về công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao.

Thứ hai, để đạt được mục tiêu trở thành nước công nghiệp hiện đại vào năm 2045, Việt Nam cần duy trì tốc độ tăng trưởng cao hơn so với giai đoạn trước. Tuy nhiên, sự phát triển bền vững chỉ có thể đạt được nếu nền kinh tế chuyển đổi theo hướng dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Để làm được điều đó, cần có những doanh nghiệp dân tộc đủ lớn, đủ mạnh để đầu tư vào nghiên cứu, ứng dụng công nghệ cao và nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường trong nước cũng như quốc tế.

“Việc đặt hàng các doanh nghiệp trong nước tham gia vào các dự án lớn sẽ giúp các doanh nghiệp trong nước có cơ hội đóng góp vào công cuộc phát triển của đất nước, tích lũy được nguồn lực để tiếp tục phát triển và đầu tư vào khoa học công nghệ và nguồn lực không bị chuyển ra bên ngoài khi không “outsource” (thuê ngoài) các dự án này cho các doanh nghiệp nước ngoài.

Đây là những dự án lớn, đòi hỏi công nghệ cao, nhân lực chất lượng cao nên nếu các doanh nghiệp trong nước nỗ lực đáp ứng thì thực sự sẽ tăng cường đáng kể năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước”, PGS.TS Nguyễn Chiến Thắng chia sẻ.

Các chuyên gia nhấn mạnh rằng những quốc gia thành công trong chiến lược công nghiệp hóa như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc) trước đây, hay các nền kinh tế công nghiệp phát triển như G7 và Trung Quốc hiện nay, đều áp dụng chính sách ưu tiên phát triển các lĩnh vực trọng điểm và đặt hàng các dự án lớn cho doanh nghiệp trong nước.

Chính sách này không chỉ tập trung vào các tập đoàn lớn hay doanh nghiệp quốc dân, mà còn tạo điều kiện hỗ trợ doanh nghiệp dân tộc, bao gồm cả các doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh nội địa.

Đồng thời, đây cũng là giải pháp quan trọng để thúc đẩy một nền kinh tế độc lập, tự chủ, giúp các doanh nghiệp trong nước vững vàng hơn trước những biến động của thị trường toàn cầu.

Một số khuyến nghị khác

Theo PGS.TS Nguyễn Chiến Thắng, việc đặt hàng doanh nghiệp dân tộc tham gia các dự án lớn trên thế giới không phải lúc nào cũng đạt kết quả như mong muốn. Ông chỉ ra rằng, một số chính sách công nghiệp ưu tiên doanh nghiệp trong nước đã không thành công, như ngành ô tô của Malaysia, ngành hóa dầu và sản xuất máy bay của Nhật Bản, hay một số chaebol tại Hàn Quốc.

Do đó, để chính sách đặt hàng doanh nghiệp trong nước thực sự hiệu quả, cần cân nhắc đến các yếu tố quan trọng sau:

Thứ nhất, lựa chọn ngành ưu tiên phù hợp. Việc đặt hàng cho doanh nghiệp dân tộc chỉ nên thực hiện nếu họ có năng lực cạnh tranh đạt một mức nhất định. Nếu khoảng cách giữa yêu cầu dự án và năng lực hiện tại của doanh nghiệp còn lớn, Chính phủ có thể hỗ trợ, nhưng không nên đặt kỳ vọng vào những lĩnh vực mà doanh nghiệp trong nước chưa đủ khả năng tham gia, tránh ảnh hưởng đến tiến độ và hiệu quả của dự án.

Thứ hai, xây dựng khung pháp lý để đảm bảo sự tham gia của nhiều doanh nghiệp. Chính sách cần tạo điều kiện cho cả doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ, vừa cùng phát triển.

Chẳng hạn, Hàn Quốc từng ban hành quy định yêu cầu các chaebol phải chia sẻ một số công đoạn sản xuất cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nước, nhằm tránh tình trạng doanh nghiệp lớn kiểm soát toàn bộ chuỗi cung ứng.

Thứ ba, thiết lập hệ thống giám sát hiệu quả. Với các dự án quy mô lớn, cần có cơ chế giám sát chặt chẽ để kịp thời phát hiện, khắc phục sự cố và đảm bảo tiến độ triển khai nhanh chóng, hiệu quả.

Thứ tư, thực hiện đặt hàng trên nguyên tắc công bằng, minh bạch. Chính phủ cần đưa ra tiêu chí lựa chọn doanh nghiệp dân tộc một cách rõ ràng, có cơ sở khoa học và tính giải trình cao, tránh hiện tượng lợi dụng chính sách (rent-seeking) hoặc chọn sai doanh nghiệp dẫn đến thất bại của dự án.

Thứ năm, kiểm soát ngân sách chặt chẽ. Doanh nghiệp thực hiện dự án cần chịu ràng buộc tài chính nghiêm ngặt, buộc họ phải hoạt động hiệu quả và phát huy nội lực, thay vì phụ thuộc vào các khoản vay ưu đãi.

Bài học từ Hàn Quốc cho thấy, nhiều chaebol như Daewoo đã sụp đổ trong cuộc khủng hoảng tài chính châu Á do sử dụng đòn bẩy tài chính quá lớn.

Việc đặt hàng cho doanh nghiệp dân tộc không chỉ là cơ hội để phát triển nền kinh tế tự chủ mà còn là thách thức đòi hỏi chính sách phải được thiết kế một cách hợp lý, có tính thực tiễn cao để mang lại lợi ích lâu dài cho đất nước.

All in one