(FDI Việt Nam) – Để kinh tế số đóng góp tối thiểu 50% GDP vào năm 2045 theo mục tiêu Nghị quyết 57-NQ/TW, Việt Nam cần triển khai hàng loạt giải pháp mang tính đột phá.

kinh tế
Lực lượng kỹ sư công nghệ là một trong những yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia trong nền kinh tế số – Ảnh minh họa.

MỤC TIÊU ĐỘT PHÁ CHO NỀN KINH TẾ SỐ

Phát triển khoa học và công nghệ được xem là nền tảng cốt lõi để xây dựng một Việt Nam độc lập, tự cường và thịnh vượng trong thời đại số. Hàng loạt nghị quyết của Đảng và chương trình hành động của Chính phủ đã ra đời, nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, đồng thời mở ra cơ hội bứt phá cho quốc gia trong kỷ nguyên mới. Những chính sách này không chỉ tháo gỡ rào cản mà còn tiếp thêm động lực đổi mới sáng tạo cho cộng đồng doanh nghiệp công nghệ số.

Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, Việt Nam hiện có hơn 54.500 doanh nghiệp công nghệ số, với tổng doanh thu toàn ngành đạt gần 152 tỷ USD. Nhờ lực lượng lao động trẻ, năng động và khát vọng hội nhập toàn cầu mạnh mẽ, các doanh nghiệp Việt đang vươn lên trở thành lực lượng tiên phong trong hành trình chuyển đổi số, đóng góp tích cực vào mục tiêu đưa kinh tế số chiếm ít nhất 50% GDP vào năm 2045, như định hướng tại Nghị quyết số 57/NQ-TW.

Tuy nhiên, con đường hiện thực hóa mục tiêu này vẫn còn nhiều thách thức. Bà Nguyễn Minh Thảo, Trưởng phòng Nghiên cứu Chính sách khoa học, công nghệ và Đổi mới sáng tạo thuộc Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược, nhận định rằng đóng góp của kinh tế số trong các ngành sản xuất tại Việt Nam hiện vẫn còn khá hạn chế.

Cụ thể, trong lĩnh vực nông nghiệp, kinh tế số mới chỉ chiếm chưa đầy 1%; còn ở công nghiệp và xây dựng, tỷ lệ này cũng chỉ ở mức dưới 6%. Phần lớn giá trị kinh tế số vẫn tập trung chủ yếu trong khu vực dịch vụ. Vì vậy, để thúc đẩy kinh tế số phát triển bền vững, Việt Nam cần mở rộng ứng dụng công nghệ số một cách đồng đều trên tất cả các lĩnh vực kinh tế – từ nông nghiệp, công nghiệp đến dịch vụ.

Một thách thức lớn đối với phát triển kinh tế số tại Việt Nam hiện nay là bài toán nhân lực. Tỷ lệ lao động hoạt động trong lĩnh vực này vẫn còn khiêm tốn, chỉ chiếm hơn 2% tổng lực lượng lao động cả nước. Riêng trong lĩnh vực an ninh mạng, theo Hiệp hội An ninh mạng quốc gia, Việt Nam đang thiếu khoảng 700.000 nhân sự chuyên trách.

Ông Nguyễn Văn Khoa – Chủ tịch Hiệp hội Phần mềm và Dịch vụ CNTT Việt Nam (VINASA), Tổng Giám đốc Tập đoàn FPT – nhận định rằng Việt Nam đang từng bước trở thành trung tâm dịch vụ số của khu vực và thế giới. Tuy nhiên, để đáp ứng tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ này, thị trường lao động công nghệ số cần ít nhất 2,5 triệu nhân lực trong thời gian tới.

“Làm sao để Việt Nam – quốc gia thu nhập trung bình thấp – có thể vươn lên, chiếm lĩnh khoảng trống của thị trường toàn cầu? Việt Nam thu hút dòng vốn FDI lớn, nhưng cần tự đặt câu hỏi: liệu chúng ta đã đủ năng lực và cơ chế để giữ chân nhân tài, trả mức lương xứng đáng cho lực lượng kỹ sư công nghệ? Đây là yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia”, ông Khoa đặt vấn đề.

CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ SỐ

Theo ông Khoa, để hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế số mang tính đột phá, cần sự vào cuộc đồng bộ từ nhiều phía. Chính phủ đóng vai trò kiến tạo, cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý, đẩy mạnh đầu tư vào hạ tầng số và nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực công nghệ.

Về phía doanh nghiệp, cần mạnh dạn đầu tư cho hoạt động nghiên cứu – phát triển (R&D), tập trung vào các công nghệ lõi, nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ. Đồng thời, tăng cường hợp tác, liên kết trong và ngoài nước để tạo sức mạnh cộng hưởng, từ đó mở rộng cơ hội chinh phục các thị trường lớn.

kinh tế số
Đẩy mạnh đầu tư vào hạ tầng số và nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực công nghệ để thúc đẩy kinh tế số – Ảnh minh họa.

Mặt khác, toàn xã hội cần chung tay xây dựng văn hóa số – nơi khuyến khích tinh thần đổi mới sáng tạo, sẵn sàng tiếp cận và thích ứng với những mô hình kinh doanh mới, góp phần tạo động lực cho nền kinh tế số phát triển mạnh mẽ và bền vững.

Đặc biệt, Việt Nam cần thúc đẩy phát triển hạ tầng số, hạ tầng năng lượng cho chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. “Chúng tôi đề xuất Chính phủ ưu tiên đầu tư vào hạ tầng chiến lược như trí tuệ nhân tạo (AI), bán dẫn, đồng thời thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa lĩnh vực giáo dục tư nhân. Nếu làm tốt, lực lượng giáo dục tư nhân sẽ tạo ra kết quả vượt trội, giúp gắn kết chặt chẽ hơn giữa doanh nghiệp và đào tạo, giữa nhu cầu thị trường và năng lực nhân lực”, ông Khoa đề xuất.

Phân tích dưới góc độ thị trường, ông Võ Trí Thành – Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh – cho rằng các chính sách hiện nay chủ yếu tập trung vào phía cung, tức là hỗ trợ doanh nghiệp về vốn, công nghệ, nhân lực chất lượng cao và thu hút nhân tài. Tuy nhiên, phía cầu – nơi thị trường và người tiêu dùng tương tác trực tiếp với sản phẩm, dịch vụ – lại chưa được chú trọng tương xứng. Theo ông, muốn thúc đẩy mạnh mẽ quá trình chuyển đổi số, cần đặc biệt quan tâm đến việc kích thích nhu cầu, tạo động lực cho bên cầu.

Từ đó, ông Thành đề xuất nhóm giải pháp chính sách trọng tâm, bao gồm: xây dựng môi trường kinh doanh cạnh tranh, bình đẳng và minh bạch; phát triển thị trường để tạo thêm “cầu” cho doanh nghiệp; thúc đẩy kết nối giữa cung và cầu, đặc biệt là hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ, vừa và start-up đưa sản phẩm ra thị trường; đồng thời, cần hình thành các hệ sinh thái đổi mới sáng tạo để nuôi dưỡng và lan tỏa động lực phát triển.

Từ thực tiễn doanh nghiệp công nghệ, ông Đoàn Mạnh Hà – Giám đốc điều hành Bkav AI – nhấn mạnh vai trò của chính sách kích cầu. Ông cho rằng Chính phủ cần có các chương trình hỗ trợ đầu tư, tài trợ một phần kinh phí nhằm giúp doanh nghiệp mạnh dạn hơn trong việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và các công nghệ số tiên tiến khác vào thực tiễn sản xuất, kinh doanh.

Ngoài ra, một trong những rào cản đối với doanh nghiệp là khó tiếp cận nguồn dữ liệu. Vì vậy, Bkav kiến nghị Nhà nước có chính sách “mở dữ liệu”. Theo đó, những dữ liệu không nhạy cảm, không ảnh hưởng đến an ninh quốc gia hoặc quyền riêng tư cá nhân có thể công khai để doanh nghiệp tiếp cận, sử dụng trong phát triển AI.

Theo ông Trần Minh Tuấn, Vụ trưởng Vụ Kinh tế số và Xã hội số (Bộ Khoa học và Công nghệ), về chính sách, có 2 định hướng quan trọng. Thứ nhất, là nâng cao năng lực của doanh nghiệp vừa và nhỏ, khuyến khích doanh nghiệp “máu lửa” và năng động hơn. Thứ hai, việc hỗ trợ các doanh nghiệp không phải bằng cách “chọn người thắng” mà là “hỗ trợ người thắng”.

“Nhà nước không chọn sẵn doanh nghiệp nào sẽ thành công, mà tạo điều kiện để những doanh nghiệp có hiệu quả được phát triển, qua đó lan tỏa lợi ích đến các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua các dự án, mua sắm công và kết nối thị trường. Đây là tinh thần cốt lõi của Nghị quyết số 57/NQ-TW và Nghị quyết số 68-NQ/TW, nhằm tạo động lực để doanh nghiệp vừa và nhỏ không chỉ tham gia, mà còn dẫn dắt trong một số lĩnh vực”, ông Tuấn nhấn mạnh.

Nguồn: Báo Đầu tư

All in one