Sự bùng nổ của CN chế biến nông thủy sản trong thập niên 2000 đã không tạo được sự đột phá cho kinh tế của Vùng. Sinh kế của người lao động chưa được cải thiện như kỳ vọng, chủ yếu do phụ thuộc quá lớn vào thị trường xuất khẩu và giá trị gia tăng thấp của hoạt động chế biến nông thủy sản. Đồng bằng sông Cửu Long và công nghệ chế biến chế tạo.

dbscl

Đóng góp của Đồng bằng sông Cửu Long cho công nghiệp chế biến – chế tạo của cả nước ngày một suy giảm. Trong giai đoạn 2015-2019, tốc độ tăng trưởng CN CB-CT của Vùng đã bắt kịp cả nước, song tỷ trọng vẫn giảm liên tục, từ 24,9% xuống chỉ còn 16,7%, và tỷ trọng lao động giảm từ 18,7% xuống còn 18,0%. Như vậy, năng suất trung bình CN CB-CT của vùng thấp hơn hẳn so với cả nước, và việc cải thiện tốc độ tăng trưởng chủ yếu bởi quy mô CN CB-CT của Vùng còn quá nhỏ, chứ không phải do sức bật nội tại. 

Đại dịch COVID-19 làm bộc lộ tính dễ bị tổn thương của CN CB-CT của Đồng bằng sông Cửu Long trước các cú sốc thị trường. Tăng trưởng CN CB-CT của Vùng trong hai năm 2020-2021 chỉ đạt 3,9%, thấp hơn mức 5,6% của cả nước. Nguyên nhân là do các doanh nghiệp CN CB-CT của Vùng có quy mô nhỏ, thâm dụng lao động ít kỹ năng, và đơn điệu trong mô hình sản xuất. 

Tình trạng thâm dụng lao động ít kỹ năng khiến thu nhập bình quân của lao động trong Vùng thấp hơn mặt bằng chung của cả nước. Khoảng cách này đang được thu hẹp, chủ yếu nhờ sự cải thiện (có tính cục bộ) của CSHT và sự dịch chuyển CN chế tạo thâm dụng lao động từ vùng TP.HCM ra các vùng phụ cận trong đó có Đồng bằng sông Cửu Long, nhất là Long An và Tiền Giang. Bên cạnh đó, thu nhập của lao động chế biến thủy sản ở một số địa phương như Cà Mau, Sóc Trăng, Tiền Giang đang tiến gần đến mức thu nhập của các trung tâm CN vùng Đông Nam Bộ. 

Đầu tư vào CN CB-CT tại hầu hết các địa phương ngày càng suy giảm, ngoại trừ một số tỉnh như Bạc Liêu, Hậu Giang, Tiền Giang. Tốc độ tăng trưởng vốn đầu tư cho CN CB-CT của Vùng giảm từ 8%/năm trong giai đoạn 2010-2015 xuống chỉ còn 3,5%/năm trong giai đoạn 2015-2019, chỉ bằng ½ mức bình quân cả nước. Trong hai năm COVID-19, vốn đầu tư vào CN CB-CT của Vùng gần như không đổi trong khi cả nước vẫn tăng 3,8%, khiến tỷ trọng đầu tư cho CN CB-CT của Vùng giảm từ 21,5% xuống 17,1% trước dịch, và chỉ còn 15,6% vào cuối 2020.

 Đầu tư FDI cho CN CB-CT của Vùng rất hạn chế. Như đã thảo luận trong mục “Đầu tư”, số dự án đầu tư cho CN CB-CT thì nhiều, song tỷ trọng vốn đầu tư lại thấp. Nếu không giải quyết được những nút thắt cơ bản (như cơ sở hạ tầng giao thông, logistics, nhân lực,…) thì ngành CN CB-CT không thể trở thành động lực tăng trưởng quan trọng cho Vùng. 

Mặc dù nông thủy sản của Đồng bằng sông Cửu Long là thế mạnh nổi bật, song cả khâu chế biến và tiêu thụ đều phụ thuộc vào các đơn hàng nhập khẩu. Với dân số lớn và tầng lớp trung lưu ngày càng tăng, thị trường nội địa đem đến cơ hội tiêu thụ, thử nghiệm và phát triển các sản phẩm mới. Thế nhưng “nghịch lý” là ngành CN chế biến nông sản Đồng bằng sông Cửu Long vẫn đang “quay lưng” lại với thị trường trong nước để chạy theo các thị trường xuất khẩu; đồng thời người tiêu dùng trong nước lại chạy theo sản phẩm nhập khẩu và quay lưng lại với sản phẩm nội địa. 

(Nguồn: vnfdi.vn)

>> Dân số, việc làm mức sống dân cư tại Đồng bằng sông Cửu Long