Diễn đàn “Khu công nghiệp Việt Nam – 2022: Khơi thông dòng vốn đầu tư mới” diễn ra sáng 11/8 tại TP.HCM, do Tạp chí Nhà đầu tư/Nhadautu.vn dưới sự hỗ trợ của Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức cùng sự tham gia của lãnh đạo địa phương, các doanh nghiệp hàng đầu trong lĩnh vực phát triển khu công nghiệp.

Sáng 11/8, tại TP.HCM, Tạp chí Nhà đầu tư/Nhadautu.vn tổ chức diễn đàn “Khu công nghiệp Việt Nam – 2022: Khơi thông làn sóng đầu tư mới”.

Cơ hội vàng để đón sóng đầu tư mới

Phát biểu khai mạc diễn đàn, TS. Nguyễn Anh Tuấn, Tổng biên tập Tạp chí Nhà đầu tư/Nhadautu.vn cho hay sau hai năm chịu ảnh hưởng nặng nề của đại dịch COVID-19 nền kinh tế Việt Nam trong 7 tháng đầu năm nay đã phục hồi tích cực, tăng trưởng GDP 6 tháng đầu năm đạt 6,42%, kinh tế vĩ mô ổn định, hoạt động FDI và xuất khẩu tiếp tục khởi sắc.

Theo đánh giá của nhiều chuyên gia và một số tổ chức quốc tế, Việt Nam đang đứng trước cơ hội vàng để thu hút một làn sóng đầu tư mới từ nước ngoài, nhất là đầu tư vào các KKT, KCN. Có thể điểm mặt 4 yếu tố quan trọng tạo nên cơ hội, đó là:

Thứ nhất, bên cạnh sự ổn định chính trị, nền kinh tế Việt Nam đang phục hồi nhanh chóng sau đại dịch, đạt tốc độ tăng trưởng vào loại cao nhất trong khu vực; các cân đối vĩ mô được đảm bảo, lạm phát được kiềm chế.

Thứ hai, nhiều hiệp định thương mại tự do đã được ký kết và đang được thực thi hiệu quả, tạo thuận lợi cho hoạt động đầu tư và thương mại quốc tế.

Thứ ba, sự quan tâm đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng của nhà nước, nhất là hệ thống đường bộ cao tốc và sự tham gia đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng của các doanh nghiệp đầu ngành, điều kiện hạ tầng cho phát triển công nghiệp cho cả 3 miền đã và đang được cải thiện rõ rệt.

Thứ tư, Việt Nam đã xác định rõ quan điểm định hướng và mục tiêu thu hút đầu tư nước ngoài đến năm 2030. Trên cơ sở Nghị quyết 50-NQ/TW của Bộ Chính trị về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030, Chính phủ đã ban hành Chương trình hành động để thực hiện Nghị quyết quan trọng này. Ngày 2/6 vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định 667/QĐ-TTg Phê duyệt Chiến lược hợp tác đầu tư nước ngoài giai đoạn 2021-2030.

khu-cong-nghiep

Diễn đàn “Khu công nghiệp Việt Nam – 2022: Khơi thông làn sóng đầu tư mới” do Tạp chí Nhà đầu tư/Nhadautu.vn tổ chức sáng 11/8. Ảnh: PV.

Theo đó, xác định mục tiêu tăng 50% số lượng Tập đoàn đa quốc gia thuộc nhóm 500 Tập đoàn lớn nhất thế giới do Tạp chí Fortune (Hoa Kỳ) xếp hạng có hiện diện và hoạt động tại Việt Nam; đến năm 2030 Việt Nam nằm trong nhóm 3 quốc gia dẫn đầu ASEAN và nhóm 60 quốc gia đứng đầu thế giới theo xếp hạng môi trường kinh doanh của Ngân hàng Thế giới.

Chiến lược cũng đề ra các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài, trong đó đáng chú ý là yêu cầu cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế; đổi mới và nâng cao cạnh tranh trong thu hút đầu tư nước ngoài (ĐTNN); phát triển công nghiệp hỗ trợ, thúc đẩy liên kết, lan toả; phát huy năng lực nội tại và tận dụng lợi thế cạnh tranh nhằm cải thiện hiệu quả hợp tác ĐTNN.

Đối với các KKT-KCN, ngày 28/5 vừa qua, Chính phủ đã ban hành Nghị định 35/2022 về Quản lý Khu Kinh tế, Khu Công nghiệp. Nghị định đã quy định cụ thể về xây dựng, phát triển hệ thống khu công nghiệp, khu kinh tế; chính sách phát triển và quản lý nhà nước đối với khu công nghiệp, khu kinh tế, quy định cụ thể về phát triển các mô hình KKT, KCN, Khu công nghiệp – Đô thị – Dịch vụ, Khu Công nghiệp sinh thái…. Cơ hội để tạo một làn sóng đầu tư mới là rất lớn.

4 thách thức lớn

Theo TS. Nguyễn Anh Tuấn, mặc dù có nhiều thuận lợi, tuy nhiên, để biến cơ hội thành hiện thực đòi hỏi phải xúc tiến đầu tư có trọng điểm, thu hút được các dự án công nghệ mới, công nghệ cao, thân thiện môi trường, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong giai đoạn mới. Đồng thời phải khắc phục các rào cản để khơi thông làn sóng đầu tư đó.

Theo phản ánh của các nhà đầu tư những rào cản đó là: Thứ nhất, thủ tục hành chính còn rườm rà, chồng chéo, thời gian thực hiện quá dài tăng thêm chi phí và thời gian, làm giảm hiệu quả dự án đầu tư;

Thứ hai là việc giải phóng mặt bằng cho các KCN mới thành lập còn nhiều vướng mắc, kéo dài;

Thứ ba là các vấn đề về thực thi pháp luật, nhất là chính sách ưu đãi đầu tư, hoàn thuế với doanh nghiệp chế xuất;

Thứ tư là vấn đề thiếu hụt nguồn cung lao động chất lượng cao cho các KCN, vấn đề nhà ở, phúc lợi xã hội cho công nhân làm việc trong các KCN-KKT. Nhiều nhà đầu tư cũng kiến nghị các cơ quan Chính phủ và chính quyền địa phương cần có sự hỗ trợ kịp thời hơn nữa trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến triển khai dự án của các doanh nghiệp đầu tư kết cấu hạ tầng và doanh nghiệp đầu tư vào KCN-KKT.

Trước những yếu tố thuận lợi và thách thức nói trên, nhằm phân tích, đánh giá toàn diện về tiềm năng, cơ hội và kết nối đầu tư vào Khu công nghiệp, Khu kinh tế trong bối cảnh mới, nhận diện các rào cản và đề xuất các giải pháp khơi thông dòng vốn đầu tư, nhất là FDI chất lượng cao vào các Khu công nghiệp – Khu kinh tế, được sự chỉ đạo và hỗ trợ của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Hiệp hội Doanh nghiệp Đầu tư nước ngoài, hôm nay Tạp chí Nhà đầu tư/Nhadautu.vn tổ chức Diễn đàn KCN Việt Nam 2022 với chủ đề “Khơi thông làn sóng đầu tư mới”.

Diễn đàn có sự tham dự của đại diện lãnh đạo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ban Kinh tế Trung ương, Văn phòng Chính phủ, Tổng cục Thuế, UBND một số tỉnh, thành phố, các Ban Quản lý KCNKKT, các chuyên gia kinh tế, Hiệp hội doanh nghiệp các nước, các công ty tư vấn đầu tư quốc tế, các nhà đầu tư kết cấu hạ tầng KCN và các nhà đầu tư trong và ngoài nước.

Ban tổ chức mong muốn các đại biểu và chuyên gia sẽ tập trung phân tích, đánh giá, thảo luận cởi mở để đánh giá khách quan về cơ hội, thu hút đầu tư, cũng như chỉ ra những thách thức, rào cản và đề xuất các giải pháp nhằm khơi thông dòng vốn FDI vào KCN Việt Nam trong thời gian tới.

Các khuyến nghị về chính sách, giải pháp từ Diễn đàn này sẽ được cơ quan chủ quản của Tạp chí Nhà đầu tư – Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ, Bộ KH&ĐT và các cơ quan hữu quan.

Tổng biên tập Tạp chí Nhà đầu tư/Nhadautu.vn thông tin, các nội dung chính của diễn đàn sẽ xoay quanh: Khơi thông dòng vốn FDI chất lượng cao vào các KCN; những nhân tố có thể tạo nên một làn sóng mới?; những điểm mới của Nghị định 35/2022/NĐ-CP về chính sách khuyến khích phát triển KCN phụ trợ, KCN chuyên ngành, KCN công nghệ cao, KCN Sinh thái và KCN – đô thị – dịch vụ; khu công nghiệp chuyên ngành hấp dẫn doanh nghiệp ngoại; cơ hội đầu tư vào các KCN tại các tỉnh, thành phố;

Doanh nghiệp trong và ngoài nước đang nhắm tới những loại hình khu công nghiệp nào tại Việt Nam?; nhu cầu phát triển công nghiệp phụ trợ – cơ hội thu hút đầu tư vào các KCN; nhu cầu và triển vọng phát triển ngành công nghiệp phụ trợ; năng lực của các doanh nghiệp ngành phụ trợ của Việt Nam và vấn đề liên kết với nước ngoài; chính sách khuyến khích đầu tư phát triển khu công nghiệp phụ trợ; xu hướng đầu tư phát triển và kinh doanh hạ tầng KCN của các tập đoàn lớn; những KCN đang chào đón các dự án công nghiệp phụ trợ; vấn đề cung cấp lao động trong các KCN; chính sách hỗ trợ tuyển dụng đối với doanh nghiệp công nghiệp phụ trợ…

Diễn đàn là cơ hội để giới thiệu, quảng bá tiềm năng, cơ hội và chính sách thu hút đầu tư vào KCN của các tỉnh, thành phố.

Xây dựng môi trường đầu tư KCN, KKT minh bạch

Phát biểu tại diễn đàn, Thứ trưởng Bộ KH&ĐT Trần Quốc Phương cho biết: Những năm gần đây, trung bình hàng năm, vốn FDI trong khu công nghiệp, khu kinh tế chiếm khoảng 35-40% tổng vốn FDI đăng ký tăng thêm của cả nước; nếu tính riêng trong lĩnh vực chế biến, chế tạo thì vốn FDI trong khu công nghiệp, khu kinh tế chiếm 70 – 80% tổng vốn đăng ký cả nước.

Đồng thời, khu công nghiệp, khu kinh tế đã thực sự trở thành các khu vực trọng điểm thu hút các nguồn vốn đầu tư và dự án lớn trong và ngoài nước, hiện là điểm đến của nhiều tập đoàn hàng đầu như: Samsung, Canon, LG, Sumitomo, Foxconn, VSIP…

Nhiều doanh nghiệp trong nước với khởi đầu là nhà đầu tư phát triển và kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp đã phát triển thành những tập đoàn đầu tư đa ngành, đa lĩnh vực, dần vươn tới các thị trường ngoài nước, góp phần khẳng định vị thế của doanh nghiệp Việt Nam trên trường quốc tế như Phú Mỹ 3, Viglacera, Trường Hải, Becamex, Sonadezi, Kinh Bắc… Đây là những đóng góp đáng ghi nhận của các khu công nghiệp, khu kinh tế về thu hút đầu tư và phát triển sản xuất kinh doanh.

tran-quoc-phuong

Hơn thế nữa, các doanh nghiệp trong khu công nghiệp, khu kinh tế ngày càng đóng vai trò quan trọng trong tổng thu ngân sách, tạo việc làm, góp phần nâng cao sức cạnh tranh, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế thế giới của Việt Nam, nhất là việc tham gia các chuỗi giá trị toàn cầu để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo động lực đổi mới công nghệ và nâng cao sức cạnh tranh cho doanh nghiệp trong nước.

Hiện nay trên thế giới, các mô hình khu tiếp tục được xác định là một mô hình hiệu quả để phát triển công nghiệp và thu hút đầu tư, đặc biệt là đối với các quốc gia đang phát triển. Tuy nhiên, các mô hình đang có sự thay đổi về động lực phát triển, theo đó các mô hình khu truyền thống hướng đến xuất khẩu và dựa chủ yếu vào ưu đãi về tài chính đang được chuyển đổi mạnh mẽ nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh dựa trên: mô hình quản lý tiên tiến; hợp tác, cộng sinh công nghiệp để sử dụng hiệu quả nguyên vật liệu, năng lượng, tài nguyên, chia sẻ dịch vụ dùng chung.

Bên cạnh đó, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 thúc đẩy chuyển đổi mô hình sản xuất, hợp tác kinh doanh, chuỗi giá trị toàn cầu; phương thức điều hành, tổ chức và huy động nguồn lực của doanh nghiệp, chuyển đổi doanh nghiệp từ số hóa đơn giản sang hình thức đổi mới sáng tạo dựa trên sự kết hợp nhiều loại công nghệ. Các yếu tố này sẽ tác động đến mô hình, định hướng phát triển của khu công nghiệp, khu kinh tế ở Việt Nam trong thời gian tới. Tại Việt Nam, bối cảnh phát triển các khu công nghiệp, khu kinh tế cũng đã có những thay đổi với thuận lợi và khó khăn đan xen.

Trong đó, bối cảnh trong nước hiện nay tạo thuận lợi cơ bản cho sự phát triển của khu công nghiệp, khu kinh tế như: môi trường đầu tư kinh doanh ngày càng hoàn thiện; cơ sở hạ tầng kỹ thuật, nhất là đường giao thông kết nối vùng, với thị trường quốc tế được nâng cấp và phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh; vị thế quốc tế của Việt Nam được nâng lên và thị trường xuất khẩu được rộng mở thông qua các Hiệp định tự do thương mại đa phương, song phương và nguồn lao động có khả năng thích ứng tốt với những thay đổi khoa học và công nghệ.

Tuy nhiên, việc phát triển khu công nghiệp, khu kinh tế theo chiều rộng gặp khó khăn do nguồn lực về lao động, đất đai, tài nguyên đã tới hạn trong khi năng suất lao động, hiệu quả khai thác tài nguyên chưa cao; chưa đảm bảo hài hòa giữa phát triển kinh tế với yêu cầu về bảo vệ môi trường, đảm bảo an sinh xã hội; duy trì lợi thế cạnh tranh của khu công nghiệp, khu kinh tế trong điều kiện các ưu đãi về thuế, đất đai đang có xu hướng giảm dần; liên kết và hợp tác sản xuất công nghiệp trong khu công nghiệp, khu kinh tế của Việt còn hạn chế.

Do vậy, việc phát triển khu công nghiệp, khu kinh tế cần có chính sách để tận dụng được cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và nâng cao hiệu quả thu hút và hợp tác đầu tư nước ngoài theo Nghị quyết số 50-NQ/TW của Bộ Chính trị.Nghị quyết XIII của Đảng vừa qua đã thông qua định hướng và tầm nhìn phát triển đất nước đến năm 2025, 2030 và 2045 với mục tiêu tiếp tục đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đến năm 2025, tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong GDP đạt 50%. Các định hướng, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước trong thời gian gần đây đặt ra yêu cầu về nâng cao hiệu quả phát triển các khu công nghiệp, khu kinh tế theo hướng phát triển bền vững và đổi mới mô hình phát triển, hiệu quả sử dụng đất. 5 định hướng trọng tâm

Việc cụ thể hóa chủ trương, chính sách về khu công nghiệp, khu kinh tế, đặc biệt là hoàn thiện thể chế, chính sách để đảm bảo khu công nghiệp, khu kinh tế tiếp tục đóng vai trò là mô hình quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội là yêu cầu cấp thiết.

tran-quoc-phuong1

Thứ trưởng Bộ KH&ĐT Trần Quốc Phương phát biểu tại diễn đàn.

Với vai trò cơ quan đầu mối, tham mưu về quản lý nhà nước đối với khu công nghiệp, khu kinh tế, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã và đang tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp về phát triển khu công nghiệp, khu kinh tế, trong đó xác định một số định hướng phát triển như sau:

Một là, việc phát triển khu công nghiệp, khu kinh tế là mô hình, giải pháp quan trọng nhằm thúc đẩy quá trình tái cơ cấu nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng, hướng tới công nghiệp hóa đất nước theo hướng hiện đại, hài hòa giữa các vùng miền, ngành, nghề.

Hai là, đổi mới và đa dạng hóa các loại hình khu công nghiệp, khu kinh tế để thích ứng với yêu cầu trong nước và hội nhập kinh tế quốc tế; đảm bảo sức hấp dẫn, cạnh tranh quốc tế của khu công nghiệp, khu kinh tế trong thu hút, hợp tác đầu tư, trong đó lấy đổi mới mô hình phát triển, phương thức quản lý tiên tiến, thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong khu công nghiệp, khu kinh tế làm nền tảng.

Ba là, phát triển kết cấu hạ tầng và thúc đẩy sản xuất kinh doanh trong khu công nghiệp, khu kinh tế phải đảm bảo đồng bộ, hài hòa về kinh tế, xã hội, môi trường; gắn kết chặt chẽ với đảm bảo quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn, an sinh xã hội và chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động; thực hiện các cam kết quốc tế về tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.

Bốn là, thu hút đầu tư vào khu công nghiệp, khu kinh tế có chọn lọc, phù hợp với yêu cầu, tiềm năng phát triển của địa phương, vùng; ưu tiên dự án đầu tư có công nghệ hiện đại, có hợp tác chuyển giao công nghệ, đảm bảo chất lượng, hiệu quả sử dụng tài nguyên và lao động, có giá trị gia tăng cao và tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, thích ứng với Cách mạng Công nghiệp 4.0.

Năm là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, vai trò tiên phong và sáng tạo của công đoàn các cấp trong bảo vệ quyền lợi của người lao động, đặc biệt là trong quá trình thực hiện các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới; vai trò phản biện, giám sát của các tổ chức chính trị, xã hội; phát huy sự năng động, hiệu quả của nhà đầu tư, doanh nghiệp và các cấp, các ngành trong phát triển khu công nghiệp, khu kinh tế.

Vừa qua, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã tham mưu cho Chính phủ ban hành Nghị định số 35/2022/NĐ-CP ngày 28 tháng 5 năm 2022 quy định về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế, trong đó đã bổ sung các loại hình khu công nghiệp, khu kinh tế mới, bỏ thủ tục thành lập khu công nghiệp để giảm bớt thủ tục hành chính và bổ sung, sửa đổi một số quy định để nâng cao hiệu quả sử dung đất trong phát triển khu công nghiệp, khu kinh tế.

Trong thời gian tới, Bộ Kế hoạch và Đầu tư sẽ cùng các bộ, ngành và các địa phương tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện cơ chế chính sách và đồng hành cùng với nhà đầu tư để xây dựng môi trường đầu tư kinh doanh của khu công nghiệp, khu kinh tế ngày càng minh bạch, thuận lợi.

dien-dan1

Diễn đàn Khu công nghiệp Việt Nam – 2022 thu hút đông đại đại biểu tham dự.

PHIÊN I: VIỆT NAM TRƯỚC CƠ HỘI ĐÓN NHẬN LÀN SÓNG ĐẦU TƯ MỚI

Cơ hội thu hút FDI vào Việt Nam sau đại dịch COVID-19

Trình bày tham luận: “Việt Nam trước cơ hội đón nhận một làn sóng FDI sau đại dịch COVID-19”, ông Nguyễn Anh Tuấn, Phó cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) nhấn mạnh:

Trong 2 năm chịu ảnh hưởng nặng nề của đại dịch COVID 19, hoạt động đầu tư, kinh doanh của doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn. Trong bối cảnh đó, Việt Nam đã tập trung phát huy nội lực, thực hiện “mục tiêu kép” vừa phòng chống dịch COVID-19, vừa phục hồi phát triển kinh tế và đạt được nhiều kết quả tích cực.

Giai đoạn sau đại dịch, thu hút FDI vào Việt Nam đang đứng trước nhiều cơ hội để có thể đón được một làn sóng đầu tư mới.

Thứ nhất, với việc kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19, duy trì ổn định hoạt động sản xuất – kinh doanh, Việt Nam vẫn được đánh giá là điểm đến đầu tư an toàn, tiềm năng và hấp dẫn trong chính sách đa dạng hóa chuỗi cung ứng, sản xuất toàn cầu của các nhà đầu tư.

Thứ hai, vị thế quốc tế của Việt Nam đang được nâng cao cùng với các hoạt động kinh tế đối ngoại tích cực của lãnh đạo cấp cao Đảng và nhà nước, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

Thứ ba, với sự quan tâm cao của Chính phủ và sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự đồng lòng của các doanh nghiệp, mội trường đầu tư kinh doanh của Việt Nam ngày càng trở lên thông thoáng, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư.

Thứ tư, lợi thế về nhân lực và thị trường nội địa với gần 100 triệu dân với tầng lớp trung lưu tăng nhanh, tạo nên một thị trường có sức mua khá lớn, đang thu hút sự quan tâm của nhà ĐTNN.

Thứ năm, doanh nghiệp trong nước có cơ hội tham gia sâu rộng vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Ngoài ra, Việt Nam có cơ hội đón đầu xu hướng chuyển dịch chuỗi sản xuất toàn cầu để thu hút ĐTNN phát triển một số lĩnh vực mới tại Việt Nam.

nguyen-anh-tuan1

Ông Nguyễn Anh Tuấn, Phó cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư)

Tuy nhiên, bên cạnh các thời cơ, thuận lợi nêu trên thì Việt Nam cũng còn nhiều khó khăn, thách thức cần phải vượt qua để đón nhận làn sóng đầu tư mới.

Một là, cạnh tranh thu hút ĐTNN giữa các quốc gia thời kỳ hậu COVID-19 sẽ ngày càng gay gắt do nguồn cung ĐTNN giảm trong khi nhu cầu thu hút ĐTNN phục hồi kinh tế gia tăng.

Hai là, việc các nước đang tiến tới áp dụng thuế tối thiểu toàn cầu có thể ảnh hưởng sâu rộng đến hoạt động FDI tại Việt Nam.

Ba là, cơ chế, chính sách về ĐTNN vẫn còn chồng chéo, công tác quản lý nhà nước về ĐTNN tại các địa phương còn thiếu gắn kết, chưa theo đúng định hướng, dẫn đến việc thu hút ĐTNN thiếu tính hệ thống, hiệu quả chưa cao.

Bốn là, cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội chưa đồng bộ, năng lực dịch vụ hậu cần, logistics chưa cao, chi phí vận chuyển còn ở mức cao so với các nước trong khu vực.

Thêm vào đó, thiếu hụt lực lượng lao động có kỹ năng, đặc biệt là lao động công nghệ cao, những lĩnh vực công nghiệp mới. Nguồn nhân lực của các doanh nghiệp trong nước còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu. Cuối cùng, ngành công nghiệp hỗ trợ trong nước chưa đáp ứng được khả năng tự cung ứng trong chuỗi sản xuất.

Từ những phân tích trên, có một số giải pháp nhằm tăng cường thu hút đầu tư trong bối cảnh mới, gồm: Hoàn thiện thể chế, chính sách thu hút đầu tư nước ngoài cân đối, hợp lý giữa các vùng, miền; phát triển công nghiệp hỗ trợ, thúc đẩy liên kết và lan tỏa; Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; hiện đại hóa và đa dạng hóa công tác xúc tiến đầu tư, Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về ĐTNN.

“Có câu nói “một miếng khi đói bằng một gói khi no”, chúng tôi rất trân trọng sự chung tay đóng góp của cộng đồng doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nước ngoài. Cũng có một câu nói là “muốn đi nhanh thì đi một mình còn muốn đi xa, hãy đi cùng nhau”, chính bởi vì chúng tôi có những người bạn là những nhà đầu tư nước ngoài, nên mong rằng chúng ta sẽ đi cùng nhau, đi xa nhất có thể để cùng phát triển và thịnh vượng. Chúng tôi sẽ tạo mọi điều kiện để Việt nam trở thành ngôi nhà thứ hai của các nhà đầu tư nước ngoài”, ông Nguyễn Anh Tuấn nói.

Ưu đãi về tín dụng xanh hỗ trợ doanh nghiệp

Ông Trần Quốc Trung, Phó vụ trưởng Vụ quản lý khu kinh tế (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) trình bày tham luận “Các mô hình KCN mới trong Nghị định 35/2022 của Chính phủ”: Hiện tại, Việt Nam ghi nhận khoảng 85% KCN hoạt động theo mô hình đa ngành, đa lĩnh vực, 15% theo mô hình chuyên ngành, hỗ trợ, KCN sinh thái, KCN đô thị dịch vụ.

tran-quoc-trung

Ông Trần Quốc Trung, Phó vụ trưởng Vụ quản lý khu kinh tế (Bộ Kế hoạch và Đầu tư).

Hiện tại, chúng ta chưa có KCN nào đạt chuẩn KCN sinh thái. Trên cơ sở thực hiện và phát triển 30 năm, Nghị định (NĐ) 35 đã xây dựng các quy định mới. NĐ đưa ra 2 mô hình mới là KCN chuyên ngành và KCN công nghệ cao; sửa đổi, bổ sung KCN sinh thái, và sửa đổi cụ thể hơn KCN mô hình dịch vụ. Khu công nghiệp – đô thị – dịch vụ gồm các khu chức năng công nghiệp, đô thị, dịch vụ.

Trong đó, khu công nghiệp có chức năng chính, khu đô thị – dịch vụ có chức năng hỗ trợ, cung ứng dịch vụ, tiện ích công cộng và xã hội cho khu công nghiệp. NĐ lần này đưa ra quy định với các KCN đô thị dịch vụ phải đáp ứng yêu cầu không thuộc mức ô nhiễm 1 và 2 theo quy định pháp luật, khu vực đô thị không chiếm quá 1/3 KCN. Trong quá trình thi công kết cấu hạ tầng, có thể tách riêng các dự án, làm theo trình tự, thủ tục riêng. Nếu thực hiện tổng thể, thì liên quan đến đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư.

Ở NĐ lần này, chúng tôi bổ sung thêm KCN chuyên ngành, đầu tư cho 1 ngành nghề nhất định. Trong NĐ 35 bổ sung thêm KCN công nghệ cao, thu hút thêm CN cao, CN thông tin với tiêu chuẩn đảm bảo thu hút, hỗ trợ đáp ứng 65% ngành nghề hỗ trợ.

NĐ lần này cũng định nghĩa cụ thể hơn trên cơ sở các nhà đầu tư đăng ký, cam kết trong quá trình thực hiện kết cấu hạ tầng KCN. NĐ bổ sung nhà đầu tư thực hiện/thành lập mới KCN phải đáp ứng các tiêu chí mới như cần dành ra tỷ lệ trong quy hoạch dự án để thu hút các ngành hỗ trợ, công nghệ cao.

Đồng thời, bổ sung trong NĐ, các quy định kiểm tra giám sát sau khi được cấp giấy chứng nhận đầu tư đảm bảo chủ đầu tư xây dựng như đăng ký hồ sơ. Đối với KCN sinh thái, NĐ 82 đã đưa ra nhận định về các vấn đề gặp phải trong các KCN. Việc sử dụng các nguồn tài nguyên (nguồn thải) rất lãng phí. Việc sản xuất, kinh doanh có ảnh hưởng tiêu cực đến cộng đồng dân cư.

NĐ 35 trình bày rõ hơn việc xây dựng KCN sih thái, trong đó định nghĩa cụ thể hơn KCN sinh thái có các DN thực hiện hoạt động sản xuất sạch hơn và thực hiện cộng sinh công nghiệp (chất thải DN này là đầu vào DN khác và được tái sử dụng tuần hoàn theo kinh tế tuần hoàn hiện nay).

Thống kê đã chỉ ra nhiều lợi ích của KCN sinh thái như thực hiện cam kết môi trường, giảm thiểu rủi ro môi trường, giảm rủi ro sử dụng nguyên liệu nước, đáp ứng COP26, DN cải thiện sức khỏe người lao động, chia sẻ nguyên vật liệu trong sản xuất kinh doanh, cộng đồng dân cư có môi trường sống tốt đẹp hơn….

tran-quoc-trung1

NĐ 35 bổ sung UBND có các cơ chế, chính sách hỗ trợ hơn về chuyển giao công nghệ trong KCN đảm bảo cộng sinh công nghiệp, chính sách để Ban quản lý KCN có các đơn vị sự nghiệp cung cấp thông tin nhằm giúp các DN kết nối và thực hiện sản xuất sạch hơn. Với các DN, KCN, Nghị định 35 đặt tiêu chí về tối thiểu 20% các DN trong KCN sử dụng hiệu quả tài nguyên, sản xuất sạch hơn…. Với chủ đầu tư hạ tầng thì tỷ lệ đất dành cho giao thông, cây xanh đạt 25%, so với tiêu chuẩn trước là 21%.

Đây là giải pháp cũng như tiêu chuẩn đặt ra để DN có thể xây dựng KCN sinh thái ngay từ ban đầu. Đồng thời, có các chính sách ưu đãi về tín dụng xanh, ưu đãi về hạ tầng, tín dụng xanh và trái phiếu xanh, cung cấp thông tin hỗ trợ và giúp doanh nghiệp chuyển giao công nghệ.

Khu công nghiệp chuyên sâu hấp dẫn doanh nghiệp ngoại

Ông Tạ Quốc Bảo, Phó Tổng Giám đốc KCN chuyên sâu Phú Mỹ 3: KCN chuyên sâu Phú Mỹ 3 là KCN chuyên sâu sinh thái và cộng sinh với quy mô 1028ha, là KCN chuyên sâu duy nhât của Việt Nam được phê duyệt và thành lập vào năm 2014.

KCN được đầu tư đồng bộ hạ tầng kỹ thuật chất lượng cao đạt chuẩn quốc Tế, hệ thống điện, nước, khí gas, viễn thông được đầu tư ngầm hóa đến tận hàng rào khu đất của khách hàng, hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn A, bên cạnh hạ tầng hiện đại, chúng tôi cũng chú trọng đến mục tiêu phát triển bền vững.

ta-quoc-bao

Ông Tạ Quốc Bảo, Phó tổng giám đốc KCN chuyên sâu Phú Mỹ 3 trình bày tham luận “Khu công nghiệp chuyên sâu hấp dẫn doanh nghiệp ngoại.

Nhằm tận dụng và phát huy tất cả các tiềm năng và lợi thế sẵn có của khu vực để thu hút đầu tư thì phần lớn các khách hàng khi đầu tư vào KCN đều có quy mô vốn lớn, quy trình công nghệ hiện đại có sức lan tỏa và tạo giá trị gia tăng cao.

Bên cạnh đó, KCN chuyên sâu Phú Mỹ 3 có đầy đủ các công năng và dịch vụ tiện ích để phục vụ các nhà đầu tư và các chuyên gia và người lao động. Trong KCN có công viên thể thao với quy mô gần 100ha, có sân golf 18 lỗ, sân bóng đá, sân tennis, cầu lông, hồ bơi, khu nhà ở cho chuyên gia, khu nhà ở cho công nhân, trung tâm thương mại, dịch vụ, trạm xá, trường mầm non…

KCN chuyên sâu Phú Mỹ 3 và Phú Mỹ 3 mở rộng nằm ở vị trí trung tâm vùng công nghiệp cộng sinh bao gồm 3 chuỗi giá trị gồm chuỗi giá trị cảng biển logistics, chuỗi thượng nguồn cung ứng nguyên vật liệu cơ bản và chuỗi năng lượng khí.

Do đó chúng tôi đã đặt mục tiêu phải xây dựng thương hiệu KCN đạt chuẩn quốc tế để thu hút các nhà đầu tư vốn lớn, công nghệ hiện đại, và tạo thượng nguồn chuỗi cung ứng cho các nhà máy trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.

phu-my-3

Tính từ năm 2015 đến nay, chúng tôi đã thu hút được 31 dự án đầu tư với tổng vốn đầu tư khoảng 36.000 tỷ đồng. Dự kiến đến cuối năm 2022 chúng tôi sẽ thu hút thêm khoảng 1 tỷ USD vốn đầu tư FDI, nâng tổng vốn đầu tư FDI vào KCN lên khoảng 60.000 tỷ đồng.

THẢO LUẬN MỞ PHIÊN I

TS. Nguyễn Anh Tuấn, Tổng biên tập Tạp chí Nhà đầu tư/Nhadautu.vn điều phối phiên thảo luận mở của phiên I. Các diễn giả chính gồm: Ông Nguyễn Anh Tuấn, Phó cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài; TS. Nguyễn Đức Kiên, Tổ trưởng Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng Chính phủ; ông Nguyễn Đình Thọ, Viện trưởng Viện Chiến lược tài nguyên và môi trường (Bộ TN&MT), ông Nguyễn Thành Thanh, Trưởng BQL KCN tỉnh Long An, ông Nguyễn Công Ái, Phó tổng giám đốc KPMG, bà Bùi Nguyễn Huyễn Trang, Tổng giám đốc Công ty Cushman & Wakefield Việt Nam…

thao-luan

Các diễn giả tại phiên thảo luận mở của phiên 1.

TS. Nguyễn Anh Tuấn: Chúng ta vừa được nghe 3 tham luận và phát biểu của Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Rất cảm ơn các diễn giả. Để chuyển sang phiên thảo luận, nhằm giới thiệu thêm về tiềm năng kêu gọi đầu tư của một địa phương đang được nhiều nhà đầu tư quan tâm – đó là Long An, đồng thời phản ánh rào cản, vướng mắc địa phương đang gặp phải, xin mời ý kiến phát biểu đầu tiên của ông Nguyễn Thành Thanh, Trưởng BQL KCN tỉnh Long An.

Thời gian cấp giấy chứng nhận đầu tư chậm gây khó cho doanh nghiệp

Ông Nguyễn Thành Thanh: Tính đến nay, toàn tỉnh Long An có 37 KCN với tổng diện tích12.285,48 ha. Trong đó có 35 KCN đã được Thủ tướng Chính phủ bổ sung vào quy hoạch phát triển các KCN Việt Nam với tổng diện tích là 11.944,98 ha và 02 KCN nằm trong Khu kinh tế cửa khẩu Long An với tổng diện tích 340,5 ha. Tỉnh thu hút được 1.736 dự án, trong đó có 836 FDI với tổng số vốn (cấp mới và tăng vốn) là 5,499 tỷ USD và 900 TN với tổng số vốn (cấp mới và tăng vốn) là 109.384 tỷ đồng.

Trong đó, có 594 dự án thuê nhà xưởng với tổng diện tích nhà xưởng khoảng 238,24 ha. Đến nay, có 1.565 doanh nghiệp hoạt động trong khu công nghiệp, trong đó có 628 doanh nghiệp FDI, với 178.509 lao động trong đó có gần 3.000 lao động nước ngoài. Trong năm 2021 các DN trong KCN đóng góp 5.171 tỷ đồng vào NS tỉnh tăng 1.300 tỷ so năm 2020; trong 5 tháng đầu năm 2022 đã nộp vào NS tỉnh là 2.823 tỷ đồng.

nguyen-thanh-thanh

Ông Nguyễn Thành Thanh, Trưởng BQL KCN tỉnh Long An.

Long An đã bồi thường giải phóng mặt bằng được 7.120,68 ha đạt 70% so với tổng diện tích đất các KCN được chấp thuận chủ trương đầu tư hoặc cấp giấy chứng nhận đầu tư (ngoài ra còn có 599 ha đất công nghiệp đã chuyển sang dân cư, nhà ở cho chuyên gia và người lao động).

Vấn đề đặt ra hiện nay là công tác GPMB liên quan 100.000 hộ và 100.000 người, thay đổi sinh hoạt, là điều vô cùng phức tạp và vô cùng tế nhị. Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Long An đã thành lập chuyên đề GPMB, làm công tác tuyên truyền vận động người dân, xây dựng phương án đền bù. Phương án: Bố trí nền tái định cư và nền giá ưu đãi cho người dân. Khi không đạt được thỏa thuận mới đi đến biện pháp cưỡng chế. Nhưng điều này cũng rất hiêm hoi. Vì lẽ đó, Long An đã có quỹ đất sạch thu hút đầu tư vào KCN.

Những KCN mở rộng xin cấp chủ trương đầu tư, theo quy định của Nghị định 35 ngày 28/52012 là 60 ngày. Ở Long An, cấp giấy chứng nhận đầu tư là 1 ngày, nếu doanh nghiệp đủ uy tín. Tuy nhiên thực tế diễn ra đều trên 1 năm, gây khó khăn cho doanh nghiệp. Thời gian cho thuê đất đầu tư thứ cấp còn khoảng hơn 30 năm, chứ không phải 50 năm, lại tốn thêm thời gian GPMB, đầu tư hạ tầng, có những khu chỉ còn thời gian sử dụng dưới 30 năm, gây khó khăn thu hút đầu tư.

TS. Nguyễn Anh Tuấn: Xin ông nói rõ thêm thủ tục cấp phép đầu tư đến gần 1 năm, mắc ở khâu nào là lâu nhất. Giải phóng mặt bằng Long An gặp tình trạng như vậy, xin ông cho biết quỹ đất cho phát triển KCN dư địa còn lớn không và Long An sẽ ưu tiên kêu gọi đầu tư vào lĩnh vực nào?

Ông Nguyễn Thành Thanh: Hiện nay, thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư, các doanh nghiệp sẽ nộp hồ sơ tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư, thay vì nộp cho địa phương như trước đây. Bộ sẽ lấy ý kiến các cơ quan liên quan, địa phương giải trình, nhà đầu tư giải trình cùng nhiều vấn đề khiến dự án kéo dài 1 năm hoặc trên 1 năm.

Hiện nay, đất sạch của Long An phục vụ CN còn trên 2.500 ha, đủ điều kiện kêu gọi đầu tư 800 ha. Còn lại nằm trong diện xúc tiến kêu gọi đầu tư. Thuận lợi và thế mạnh của Long An là công nghiệp phụ trợ, ưu tiên công nghiệp ít thông dụng lao động và thân thiện môi trường. Long An thuận lợi nằm sát TP.HCM, có nhiều cửa khẩu, và cảng biển cửa ngõ ĐBSCL, có điều kiện kết nối giao thông, đồng bộ hạ tầng.

Nhưng về nền đất địa phương còn yếu nên suất đầu tư cao, giá cho thuê lại, đầu tư thứ cấp cao, điều này khiến kêu gọi đầu tư vào Long An gặp khó khăn. Tuy nhiên, vì các doanh nghiệp đã đầu tư vào địa phương lân cận nhiều nên Long An vẫn có cơ hội thu hút đầu tư.

TS. Nguyễn Anh Tuấn: Ông dự báo thế nào về triển vọng thu hút đầu tư vào các KCN của Long An trong những năm tới?

Ông Nguyễn Thành Thanh: Long An đã đầu tư hạ tầng hoàn chỉnh và đủ điều kiện kêu gọi đầu tư khoảng 800 ha, còn lại đang xúc tiến trong quá trình đầu tư cơ sở hạ tầng. Hiện nay, Long An đang ưu tiên kêu gọi đầu tư công nghiệp ít sử dụng lao động, công nghiệp ít ô nhiễm môi trường. Chúng tôi có điều kiện thuận lợi là giáp TP.HCM, của ngõ đồng bằng sông Cửu Long, có cảng biển, có cửa khẩu quốc tế nên thuận lợi thu hút đầu tư.

Tuy nhiên, Long An lại có nền đất yếu nên suất đầu tư cao, giá đầu tư, giá thuê lại cao nên rất khó thực hiện so với khu vực lân cận. Dự báo trong 6 tháng đầu năm, đất công nghiệp cho thuê đạt 125 ha, vốn FDI thu hút 350 triệu USD tăng 30% so với cùng kỳ, thu hút 12.000 tỷ, tăng 80% so với cùng kỳ. Sau đại dịch, nhà đầu tư đã tìm đến Long An như Lotte, Coca-cola, họ quan tâm đầu tư vào kho lạnh, logictics.

Tôi nghĩ dư địa trong thời gian tới dự vào nhiều điều kiện thuận lợi, Long An sẽ thu hút đầu tư tốt hơn.

TS. Nguyễn Anh Tuấn: Thưa ông Nguyễn Đình Thọ, Viện trưởng Viện Chiến lược tài nguyên và môi trường (Bộ TN&MT). Lúc nãy chúng ta có nghe một kiến nghị hết sức cụ thể, rất nhiều nhà đầu tư trên thực tế không duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh đến thời hạn 50 năm. Quy định 50 năm giấy phép KCN nhiều nơi khi kêu gọi doanh nghiệp vào đầu tư chỉ còn 30 năm. Do vậy, rất cần thay đổi chính sách để nhà đầu tư xây dựng nhà máy tại các KCN đảm bảo được quyền lợi.

Ông có thể cho biết quan điểm về kiến nghị này? Cũng liên quan lĩnh vực TN&MT, Vụ Quản lý KKT vừa nãy đã giới thiệu những mô hình KCN mới, trong đó có mô hình KCN sinh thái, xin ông đánh giá triển vọng phát triển và tiêu chí Bộ TN&MT đang xây dựng để có thể tạo ra những yếu tô minh bạch như Nghị định 35?. Xin ông cho biết luôn, dự thảo phân loại xanh bao giờ có thể lấy ý kiến doanh nghiệp, nhà đầu tư?

Phân loại cơ sở cấp tín dụng xanh, trái phiếu xanh

Ông Nguyễn Đình Thọ: Theo quy định Luật Đất đai, các KCN, khu đô thị, dự án khác… thời gian giao đất cho thuê đất theo dự án đầu tư. Do đó ,các dự án phát triển KCN được xác dịnh ở thời điểm đầu tiên khi KCN hình thành. Hiểu rõ quan tâm NĐT đảm bảo quyền thuê đất trong các KCN, Luật Đất đai cho phép hết thời hạn cho thuê đất, DN vẫn có tài sản trên đất, có nhu cầu thì được kéo dài thời gian thuê.

Theo Luật Đất Đai sửa đổi, theo chỉ đạo của Trung ương, hầu hết hình thức thuê đất từ thuê 1 lần sang thuê trả hàng năm. Do đó, Bộ TN&MT cho phép quyền thuê đất công nhận gần như là quyền tài sản, được chuyển nhượng, thế chấp, nên quyền thuê đất còn lại của 20-30 năm đều có giá trị để bảo vệ cho nhà đầu tư.

Luật khẳng định nếu thời hạn còn ngắn thì có thể lập lại dự án đầu tư, xin kéo dài thời gian. Có các hình thức khuyến khích môi trường để NĐT có thể nhận sự hỗ trợ của Chính phủ Việt Nam và cộng đồng quốc tế. Theo cam kết của VN, chúng ta cam kết giảm phát thải 9% không có hỗ trợ của cộng đồng quốc tế. Áp dụng mô hình kinh tế tuần hoàn và lồng ghép kinh tế tuần hoàn trong chiến lược bộ ban ngành, trong đó KCN có chế độ sử dụng đất dặc biệt, được hưởng trái phiếu xanh, tín dụng xanh….

Cơ chế hỗ trợ KCN sinh thái lớn. Bộ TN&MT xây dựng phân loại xanh cơ sở cấp tín dụng xanh, trái phiếu xanh, và dược ban hành trước tháng 12/2022 và là cơ sở để Chính phủ và các tổ chức quốc tế tế hỗ trợ tài chính, cho vay vốn, cấp tín dụng… cho các đơn vị tham gia KCN sinh thái. Hiện theo cập nhật, Bộ TN&MT đã lấy ý kiến dự thảo phân loại xanh trong TP.HCM. Tuần này dự kiến đưa lên cổng thông tin bộ để lấy ý kiến người dân, doanh nghiệp.

Trước tháng 12 năm sau, Chính phủ sẽ ban hành kế hoạch kinh tế tuần hoàn quốc gia, quy định chuỗi giá trị từ khai thác chế biến sản xuất tiêu dùng phân lọai xử lý thu gom tái sử dụng chất thải… các doanh nghiệp cần theo để khai thác lợi thế cam kết quốc tế và VN thời gian tới.

TS. Nguyễn Anh Tuấn: Quay trở lại các yếu tố tác động tới làn sóng đầu tư, thưa TS. Nguyễn Đức Kiên, Tổ trưởng Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng, ông có đồng tình với các ý kiến Cục ĐTNN vừa đưa ra về vĩ mô, lợi thế, thách thức trong thu hút đầu tư? Ông có thể đánh giá luôn về triển vọng tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm nay, năm sau và những năm tiếp theo?

Tốc độ tăng trưởng quý III có thể vượt 8%

TS. Nguyễn Đức Kiên: Trước hết bổ sung thêm ý kiến ở chỗ ông Nguyễn Đình Thọ về phát triển xanh. Trong năm 2021, những tháng đầu năm 2022, Chính phủ thí điểm đề án tuần hoàn xanh. Đơn cử như câu chuyện của Ban quản lý KCN Thừa Thiên Huế có cái rất mới là điện áp mái, có giá bán phù hợp và được Mỹ chấp nhận.

nguyen-duc-kien

Ông Nguyễn Đức Kiên, Tổ trưởng Tổ kinh tế của Thủ tướng Chính phủ trả lời câu hỏi tại diễn đàn.

Do đó, rất mong ban quản lý KCN các tỉnh, địa phương bám sát công thông tin của các bộ bởi đây là kênh thông tin sau chỉ đạo của Chính phủ. Thứ nhất, giải thích Nghị định 35, môi trường đầu tư các KCN. Những thông tin về kinh tế vĩ mô là hoàn toàn chính xác. Chính phủ đã kết luận hôm 4/8 về 4 nhiệm vụ trọng tâm. Đầu tiên, ổn định lạm phát 4%, giá năng lượng trong 5 kỳ vừa qua đều giảm.

Thứ hai, chúng ta đã điều chỉnh một số loại thuế phí, đồng thời, Chính phủ tập trung giải ngân đầu tư công, đặc biệt là hạ tầng.

Thứ ba, chúng ta sẽ có thêm các chính sách để gần như cưỡng bức có vốn FDI có liên kết với các DN trong nước, phục vụ cho các nhà đầu tư nước ngoài phát triển. Giúp làm giảm giá sản phẩm khi nhập vào Việt Nam Cuối cùng, Chính phủ tiếp tục hỗ trợ DN Việt Nam, thông qua mức lãi suất tín dụng, đặc biệt là gói 40.000 tỷ đồng

Dự báo kinh tế trong năm 2022 và 2023 là tốc độ tăng trưởng của quý III tương đối cao, có thể vượt 8%, nhưng đến quý IV năm nay có thể giảm xuống do xung đột chính trị trên thế giới.

Một trong những điều được đảm bảo nữa là an sinh xã hội, rất có lợi cho các KCN. Chính phủ sẽ giữ mức lạm phát năm 2022 dưới 4%. Dự báo, cả năm 2022, nếu điều kiện đầu vào (giá, thị trường, tình hình chính trị…) giống quý II, tốc độ tăng trưởng 6,5-7%.

TS. Nguyễn Anh Tuấn: Như vậy có thể yên tâm với câu chuyện lạm phát, nói hoàn toàn yên tâm không hoàn toàn thuyết phục, nhưng theo ông Kiên khả năng kiềm chế lạm phát là thực tế. Dự báo quý III, quý IV như vậy, dự báo tăng trưởng kinh tế cả năm khá trùng hợp với đánh giá của Bộ KH&ĐT. Tiếp theo xin mời ông Nguyễn Công Ái, Phó tổng giám đốc KPMG là đơn vị thường xuyên tiếp xúc với các nhà đầu tư nước ngoài. Có 2 nội dung tôi muốn ông làm rõ hơn. Thứ nhất nhiều chuyên gia cho rằng Việt Nam đang đứng trước cơ hội vàng để thu hút làn sóng đầu tư mới. Ông có đồng tình với ý kiến này không.

Thứ hai, cạnh tranh thu hút FDI đã có sự chuyển biến khi không chỉ là cạnh tranh giữa các nước đang phát triển như trước đây, mà ngay cả các nước phát triển cũng đang cạnh tranh quyết liệt, thậm chí muốn kéo các doanh nghiệp quốc gia mình về sản xuất trong nước. Ông có thể đánh giá sự cạnh tranh này tác động thế nào tới luồng FDI vào Việt Nam, và Việt Nam đang ở vị trí nào trong mắt nhà đầu tư nước ngoài. Ông có lạc quan FDI vào Việt Nam nói chung vào các KCN, KKT nói riêng.

Lạc quan triển vọng thu hút FDI vào các KCN, KKT của Việt Nam

Ông Nguyễn Công Ái: Qua tiếp xúc với các nhà đầu tư nước ngoài (NĐTNN), tôi thấy rằng mặc dù kinh tế khó khăn trong năm 2022 ở một số địa bàn nhất định song mối quan tâm của NĐTNN vẫn tăng lên đối với nền kinh tế Việt Nam, do vậy vẫn có thể khẳng định Việt Nam vẫn là điểm đến hấp dẫn đối với NĐTNN.

Nhưng nếu gọi đây là cơ hội vàng thì tôi vẫn có sự cẩn trọng, khi kinh tế đi vào suy thoái và nhiều khả năm 2023, kinh tế Mỹ và châu Âu sẽ đi vào suy thoái, điều này sẽ ảnh hưởng đến tất cả các lĩnh vực đầu tư và trong đó có dịch chuyển đầu tư giữa các nước khác. Bây giờ cạnh tranh đầu tư không chỉ giữa các nước đang phát triển với nhau mà còn phải cạnh tranh với cả Mỹ và châu Âu.

Hiện nay, chúng ta là điểm đến hấp dẫn nhất đói với các nước Bắc Á và Đông Á như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan. Trong giai đoạn này thep tôi nên tập trung chất lượng đầu tư, thân thiện môi trường, đầu tư công nghệ cao và không nhất thiết là NĐT rất lớn mà có thể là NĐT châu Á, đây có lẽ là xu hướng tiếp theo.

Về đầu tư vào Long An, mặc dù giá thuê đất cao, nhưng qua trao đổi của KPMG với NĐTNN, thấy rằng hiện nay họ quan tâm về điều kiện đầu tư, các công nghệ hỗ trợ. Do vậy, nếu Long An phát triển cảng biển quốc tế, cung cấp cho dịch vụ khu đô thị thì sẽ tạo điều kiện tốt, kể cả giá thuê cao thì họ vẫn quan tâm, vì họ coi trọng chất lượng hơn giá. Tôi hết sức lạc quan về triển vọng thu hút FDI vào các KCN, KKT của Việt Nam.

Bên cạnh đó tôi cho rằng nên cẩn trọng xem xét điều kiện thế giới khi đi vào suy thoái, cần nỗ lực cạnh tranhh, lạc quan trong sự cẩn trọng.

TS. Nguyễn Anh Tuấn: Tôi thấy có một chỉ tiêu mà Bộ KH&ĐT nãy có đề cập là thu hút được 50% trong số 500 tập đoàn lớn nhất toàn cầu do Tạp chí Fortune (Hoa Kỳ) xếp hạng. Tuy nhiên theo ý kiến ông Nguyễn Công Ái không nhất thiết như vậy, xin phản hồi của ông Nguyễn Anh Tuấn, Phó cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài.

Không nên chỉ nhìn màu hồng cơ hội thu hút đầu tư

Ông Nguyễn Anh Tuấn: Chúng ta đều đồng quan điểm với nhau. Thứ nhất, trong bối cảnh hiện nay, tôi đánh giá lạc quan về đầu tư nước ngoài. Bên cạnh đó, quyết định 667 của Thủ tướng về chiến lược phát triển ĐTNN giai đoạn 2021-2023, đã nhấn mạnh chỉ tiêu tăng 50% số tập đoàn trong Fortune top 500 là mục tiêu kéo đại bàng về để họ dẫn dắt và kéo các đối tác về Việt Nam.

anh-tuan

Ông Nguyễn Anh Tuấn nói về cơ hội thu hút đầu tư.

Đúng là chúng ta không nên chỉ nhìn màu hồng cơ hội thu hút đầu tư. Cái gì cũng có mặt trái của nó. Chúng ta cũng cùng chia sẻ cùng cạnh tranh thu hút đầu tư của các nước phát triển, đó là quy định sớm muộn thôi. Bởi lẽ, các nước phát triển muốn thu hút đầu tư vì muốn giảm thiểu rủi ro do quá bị động phụ thuộc vào các thị trường bất ổn.

Nhưng, nếu ta khẳng định Việt Nam ổn định, không lý do gì mà bằng mọi giá các quốc gia trên sẽ hút về nước họ. Tăng cường thu hút từ các nước phát triển là đúng, nhưng chúng ta cần đảm bảo để các nước phát triển tránh cảm giác thiệt thòi khi hợp tác với chúng ta.

Một trong các điểm nhấn là phát triển công nghiệp phụ trợ, phải tạo ra hệ sinh thái để các nhà đầu tư vào Việt Nam không quan tâm việc gì khác, chỉ tập trung đầu tư. Việt Nam như một “resort” đủ tiện nghi, tiện ích cho nhà đầu tư. Như vậy, dù giá có cao, họ vẫn chấp nhận ở lại Việt Nam.

TS. Nguyễn Anh Tuấn: Thưa ông Nguyễn Anh Triết, Trưởng BQL KCN tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, sáng giờ có một ý kiến được lặp lại khá nhiều, đó là thu hút đầu tư có chọn lọc, các dự án ưu tiên về chất lượng từ khoa học công nghệ, liên kết doanh nghiệp nội – ngoại, thân thiện môi trường…  Từ thực tiễn thu hút đầu tư tại Vũng Tàu, ông nhận thấy các chỉ tiêu về chất lượng có ảnh hưởng lớn đến mục tiêu về số lượng trong thu hút đầu tư không, dự báo của ông thế nào về thu hút đầu tư trong năm nay và những năm tiếp theo?

Thu hút đầu tư chất lượng cao về môi trường

Ông Nguyễn Anh Triết: Với tiềm năng của Bà Rịa – Vũng Tàu, tỉnh đặt ra mục tiêu thú hút đầu tư, chất lượng cao về môi trường, ưu tiên phát triển ngành công nghiệp công nghệ cao vật liệu cơ bản. Trải qua đợt dịch COVID-19 vừa qua, chuỗi cung ứng trên toàn thế giới bị đứt gãy.

triet

Ông Nguyễn Anh Triết, Trưởng BQL KCN Bà Rịa – Vũng Tàu

Do đó, chúng tôi thấy mục tiêu mà tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đặt ra là đúng đắn. Hiện nay, nhiều nhà đầu tư đã tìm kiếm đến với chúng tôi. Dự báo chung tình hình phát triển cả nước rất khả quan. Riêng, Bà Rịa – Vũng Tàu đã có hơn 10 nhà đầu tư đến tìm hiểu và ký cam kết, dự kiến đến cuối năm nay sẽ thu hút 1,3 tỷ USD.

Tiếm năng bất động sản công nghiệp Việt Nam rất lớn

TS. Nguyễn Anh Tuấn: Câu hỏi cuối của thảo luận mở phiên I xin được dành cho bà Bùi Nguyễn Huyền trang, Tổng Giám đốc Công ty Cushman & Wakefield Việt Nam. Bà có thể cho biết đánh giá về triển vọng bất động sản công nghiệp thời gian tới và cần làm gì để phát triển lĩnh vực này?

Bà Bùi Nguyễn Huyền Trang: Tiềm năng phát triển bất động sản KCN ở Việt Nam rất lớn. Ở Long An là 12.000ha, chiếm tỷ trọng 40% trong 25.000ha của toàn bộ nguồn cung trong các KCN miền Nam.

Những yếu tố tác động đến gồm tiềm năng của nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng 8% trong năm nay, năng lực tăng trưởng của chúng ta có thể bằng Hàn Quốc, Nhật hoặc Úc bởi vị thế của mình là một trung tâm của sản xuất.

Trong đó, miền Bắc là cánh tay nối dài của công xưởng sản xuất thế giới còn miền Nam là một vị thế của trung tâm sản xuất trung chuyển toàn cầu. Ngoài ra, dự báo năng lực cảng của mình từ năm 2030 trở đi sẽ tạo gần 38 triệu tiêu, bằng với Singapore.

Dù vậy, vì miền Nam sẽ là trung tâm của sản xuất logictics trong khu vực và toàn cầu, nhưng sân bay Tân Sơn Nhất đang quá tải, do vậy, hy vọng trong tương lai khi sân bay Long Thành đã hoàn thiện xong phần cứng (phần vận hành) sẽ tạo ra hiệu quả để thu hút nhà đầu tư vào.

**********

PHIÊN II: THÁO GỠ RÀO CẢN, KHƠI THÔNG DÒNG VỐN ĐẦU TƯ VÀO CÁC KCN

Có điểu kiện để xanh hóa sản xuất

GS-TSKH. Nguyễn Mại, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài trình bày tham luận “Khu kinh tế, khu công nghiệp với tăng trưởng xanh và kinh tế số: Đòi hỏi thác thức và giải pháp”:

Trước hết, tôi muốn nói thêm về thách thức và cơ hội, trong thế giới có nhiều yếu tố biến động không lường trước được như diễn biến giá dầu, giá lương thực, giá nguyên liệu cơ bản, tình hình lạm phát, xung đột địa chính trị. Tôi nghĩ khi nhận định về tăng trưởng kinh tế lạm phát cần lạc quan nhưng hết sức thận trọng. Do vậy, tôi kiến nghị cần có nhiều kịch bản, chủ động ứng phó với các tình huống khác nhau, các giải pháp xử lý các điểm nghẽn để tạo ra để biến cơ hội thành hiện thực.

Tôi cho rằng hiện tại và tương lai cần có cách tiếp cận khoa học hơn, cần hiểu đúng về vấn đề chúng ta đang hướng tới nền kinh tế hoàn toàn khác với nền kinh tế thế hệ trước đã sống. Chúng ta có điểu kiện để xanh hóa sản xuất và xanh hóa tiêu dùng.

Trong đó, xanh hoá sản xuất là thực hiện chiến lược công nghiệp hoá sạch thông qua rà soát, điều chỉnh những quy hoạch ngành hiện có; sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên; khuyến khích phát triển công nghiệp xanh, nông nghiệp xanh. Còn xanh hoá tiêu dùng là thay đổi lối sống để hướng đến tiêu dùng bền vững; kết hợp lối sống đẹp truyền thống với những phương tiện văn minh hiện đại.

nguyen-mai

GS-TSKH. Nguyễn Mại, Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp đầu tư nước ngoài.

Về kinh tế số, đây là toàn bộ hoạt động kinh tế dựa trên nền tảng số, sử dụng công nghệ số và dữ liệu để tạo ra những mô hình kinh doanh mới. Dựa trên nền tảng của nhiều công nghệ mới mà cốt lõi là công nghệ số, trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), chuỗi khối (Blockchain), điện toán đám mây (Cloud Computing), Internet vạn vật (IoT)).

Trên thế giới, kinh tế số đang tăng trưởng rất nhanh, trở thành chìa khóa cho một số nền kinh tế vươn ra toàn cầu. Quy mô kinh tế số của Việt Nam năm 2020 đạt 14 tỷ USD, đóng góp 5% GDP và đứng thứ hai ASEAN về tốc độ tăng trưởng kinh tế số sau Indonesia. Mặc dù vậy, để đạt được mục tiêu kinh tế số chiếm 20% GDP năm 2025 thì cần đẩy nhanh hơn nữa quá trình chuyển sang nền kinh tế số của Việt Nam bằng hệ thống giải pháp đồng bộ từ quan điểm, nhận thức của cộng đồng, hoàn thiện môi trường pháp lý, xây dựng hạ tầng số, đào tạo nhân lực cho kinh tế số.

Sau hơn 30 năm thành lập và hoạt động, nước ta đã xuất hiện nhiều KKT, KCN sinh thái, Khu Công nghiệp- Đô thị – Dịch vụ. Từ những mô hình KCN sinh thái, Khu Công nghiệp – Đô thị – Dịch vụ đã thành công tại nhiều địa phương, cần tổng kết thành hình mẫu của cả nước để từng tỉnh, thành phố áp dụng sáng tạo phù hợp với đặc điểm kinh tế – xã hội của địa phương.

Yếu tố thời gian trong giai đoạn chuyển đổi số là nhân tố cực kỳ quan trọng nếu không sẽ bỏ lỡ cơ hội để KKT, KCN đóng góp quan trọng vào Chiến lược phát triển 2021-2030 nhằm mục tiêu đến năm 2030 hoàn thành cơ bản công nghiệp hóa với mô hình tăng trưởng hiệu quả cao hơn, chất lượng hơn và bền vững hơn, có GDP/người khoảng 12 000 USD/năm, người dân có đời sống vật chất sung túc, đời sống tinh thần và văn hóa tốt đẹp, môi trường sống lành mạnh.

Bài học của Việt Nam hơn 30 năm qua cần được đúc rút không chỉ thành công, mà cả thất bại về yếu tố thời gian để cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và người dân nhận thức thách thức, cơ hội mới khi chuyển sang kinh tế số, Chính phủ số, rút ngắn thời gian, thu hẹp dần và đuổi kịp trình độ các nước dẫn đầu ASEAN, có các KCN sinh thái, Khu Công nghiệp – Đô thị – Dịch vụ hiện đại, nhiều tập đoàn kinh tế lớn nằm trong tốp 500 doanh nghiệp hàng đầu thế giới.

phien 2

Các diễn giả ở phiên thảo luận 2.

TS. Nguyễn Anh Tuấn: Mở đầu phần thảo luận mở của phiên II, TS. Nguyễn Anh Tuấn cho hay chủ là tháo gỡ rào cản khơi thông dòng vốn đầu tư. Ý kiến đầu tiên xin mời bà Hương Vũ, Tổng giám đốc EY Việt Nam. Là công ty có tiếp xúc, kết nối với rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài, trong quá trình tiếp xúc chắc bà cũng đã nắm bắt được nhiều khó khăn vướng mắc của doanh nghiệp, nhà đầu tư. Bà có thể cho một số vướng mắc nổi lên?

Doanh nghiệp được hưởng ưu đãi nhưng vướng thủ tục

Bà Hương Vũ: Về những khó khăn của các nhà đầu tư nước ngoài, tôi cũng có một số kiến nghị với Chính phủ rồi. Thực ra, tôi chỉ muốn các cơ quan ban ngành, Chính phủ cùng các doanh nghiệp cần phải đồng hành với nhau.

Những năm qua, việc thu hút vốn đầu tư vào Việt Nam rất tốt nhưng quá trình thực hiện văn bản pháp quy quá phụ thuộc vào nhà tư vấn. Ví dự như, khái niệm về DN chế xuất, được hưởng chế độ ưu tiên.

Trước đây có nhiều điểm hạn chế, nhưng sau đó Chính phủ ban hành Nghị định 18 với mục tiêu xử lý vướng mắc về hoàn thuế, đầu vào nhưng vẫn có những khúc mắc khác chưa được giải quyết.

Một doanh nghiệp chế xuất đến từ Nhật Bản cho rằng, từ tháng 12/2018, doanh nghiệp được hưởng ưu đãi theo Nghị định 18. Tuy nhiên, khi doanh nghiệp mua cung ứng của nhà nội địa ở Việt Nam nhưng chưa được thông qua thủ tục về hải quan, mong muốn được Chính phủ, cơ quan ban, ngành có hướng giải quyết, hỗ trợ.

Ông Lưu Đức Huy, Vụ trưởng Vụ Chính sách thuế (Tổng cục Thuế, Bộ Tài chính): Liên quan vướng mắc thuế giá trị gia tăng (GTGT) của doanh nghiệp, Nghị định 82 trước đây quy định là DN được hiện cơ chế DN chế xuất sau khi có xác nhận cơ quan hải quan.

Sau này, nếu kiểm ta không đủ điều kiện thì không được hoạt động diện doanh nghiệp chế xuất (nghĩa là không còn hưởng khu phi thuế quan). Khi chưa được công nhận là DN chế xuất, DN phải nộp thuế GTGT. Sau khi được công nhận, các hàng hóa mua nước ngoài thì không chịu GTGT, mua hàng từ Việt Nam thì đồng nghĩa người trong nước xuất khẩu ra nước ngoài.

Khi Bộ Tài chính sửa Nghị định 134 về thuế xuất nhập khẩu, trong đó có sửa về thuế nhập khẩu, thêm nữa là xử lý với hàng hóa DN mua từ nước ngoài về. Và,khi khoản thuế đó khi được công nhận là DN chế xuất, được đủ điều kiện phi thuê quan thì được hoàn nộp thừa. Với hàng hóa mua trong nước, trong thuộc phạm vi NĐ18, thì không căn cứ với phần tiền hoàn nộp thừa.

huy

Ông Lưu Đức Huy, Vụ trưởng Vụ Chính sách thuế (Tổng cục Thuế, Bộ Tài chính).

Khi chuyển từ DN cơ chế mua thường sang chế xuất (khu vực phi thuế quan), DN thuộc đối tượng không nộp thuế GTGT, thì không có cơ chế hoàn, khấu trừ, thuế GTGT, mà sẽ đưa vào chi phí thuế TNDN.

Về nguyên tắc, cơ quan thuế là cơ quan thực hiện theo pháp luật về thuế. Muốn đưa vào chi phí thuế TNDN thì phải đáp ứng 3 điều kiện. Một là khoản chi liên quan đến hoạt động sản xuất của doanh nghiệp, hai là có hóa đơn chứng từ hợp lý, hợp lệ, ba là, nếu khoản chi hơn 20 triệu thì cần thanh toán qua ngân hàng, cần xác định khoản này có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp không.

Trong Luật Thuế TNDN có quy định về tài trọ riêng không liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ được trừ được quy định trong luật thuế thu nhập doanh nghiệp, nếu không thuộc các trường hợp tài trợ quy định trong luật thì rất khó để cơ quan thuế chấp nhận đây là khoản chi phí được trừ khi tính thuế.

Quy hoạch tỉnh sẽ giảm bớt thủ tục cho nhà đầu tư

TS. Nguyễn Anh Tuấn: Câu hỏi tiếp theo tôi muốn dành cho ông Trần Quốc Trung, Phó vụ trưởng Vụ Quản lý KKT, Bộ KH&ĐT. Như BQL KCN Long An có trình bày, quy định như hiện nay khiến thủ tục đầu tư bị kéo dài, thậm chí hơn 1 năm, theo ông có cách gì rút ngắn thời gian xem xét các dự án kết cấu hạ tầng KCN để các nhà đầu tư tiết kiệm thời gian, chi phí?

Ông Trần Quốc Trung: Việc lập hồ sơ liên quan đến quy hoạch, khảo sát, hiện trạng, liên quan đến chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Đồng thời, các nhà đầu tư kết cấu hạ tầng KCN đáp ứng yêu cầu vốn, kinh nghiệm.

Trong quá trình lập hồ sơ xin ý kiến các bộ ngành, liên quan vấn đề đất đai, quy hoạch xây dựng, nhà đầu tư cần chuẩn bị tốt năng lực tài chính, hồ sơ dự án đáp ứng yêu cầu cơ quan quản lý liên quan, đặc biệt nội dung liên quan đất đai. Với các dự án KCN thì quan trọng việc chuyển đổi đất lúa, đất rừng, các tài sản công trình công cộng. Do đó, việc thực hiện dự án hạ tầng KCN mất nhiều thời gian….

Thời gian tới, các bước quy hoạch tỉnh, điều tra, khảo sát xây dựng sẽ được thực hiện trước khi lập hồ sơ dự án KCN, do đó DN có thể rút ngắn thời gian chuẩn bị. Bên cạnh đó, chúng ta đã bỏ quy hoạch KCN, đưa vào quy hoạch tỉnh, góp phần giảm bớt thời gian cho nhà đầu tư.

TS. Nguyễn Anh Tuấn: Trong tham luận GS-TSKH. Nguyễn Mại đã nhấn mạnh đó là chuyển đổi KCN xanh, KCN sinh thái. Tuy nhiên, đầu tư KCN theo mô hình này đòi hỏi chi phí lớn, dẫn đến khó khăn về vốn và chậm hoàn vốn. Với tư cách nhà đầu tư KCN kiểu mẫu tại Vũng Tàu, từ kinh nghiệm thực tế Phú Mỹ 3, ông có thể chia sẻ kinh nghiệm của doanh nghiệp, xin mời ông Tạ Quốc Bảo, Phó tổng giám đốc KCN chuyên sâu Phú Mỹ 3?

Ông Tạ Quốc Bảo: KCN chuyên sâu Phú Mỹ 3 là KCN kiểu mẫu hướng đến nhà đầu tư có quy mô lớn. Để thu hút được đại bàng thường có dây chuyền sản xuất hiện đại, tiêu chí môi trường, tổng vốn đầu tư lớn, thì chúng tôi xác định đầu tư hạ tầng đồng bộ, hiện đại.

Ngoài hạ tầng, chúng tôi còn có dịch vụ một cửa, đồng hành cùng nhà đầu tư trong suốt quá trình tìm hiểu, triển khai dự án. Bộ phận này chính là cầu nối cho chính quyền và nhà đầu tư.

Bất động sản công nghiệp sẽ tạo ra lối đi mới

TS. Nguyễn Anh Tuấn: Mô hình KCN đô thị dịch vụ được rất nhiều nhà đầu tư quan tâm, lần này đã được quy định cụ thể trong Nghị định 35, tuy nhiên nhiều nhà đầu tư vẫn bày tỏ một số lo ngại khi đầu tư mô hình này. Xin được dành câu hỏi cho ông Hồ Chí Quang, Phó vụ trưởng Vụ Quy hoạch kiến trúc, Bộ Xây dựng. Ông có thể cho biết cần làm gì để thủ tục đầu tư mô hình này được thuận lợi?

Ông Hồ Chí Quang: Hiện nay, Bộ Xây dựng đang nhận nhiệm vụ xây dựng quy chuẩn khu công nghệ dịch vụ đô thị. Theo cá nhân tôi được biết, hiện chưa có pháp luật, quy định cho 1 chủ đầu tư thực hiện 1 dự án khu đô thị kết hợp khu công nghiêp. Đầu tiên, phải xác định tính cộng sinh đô thị – công nghiệp và xác định tỷ lệ phần trăm đô thị và công nghiệp. Từ đó, cơ quan địa phương, cơ quan lập pháp mới đưa ra các quy định phù hợp.

Tôi được biết TP.HCM đã đưa ra mô hình phù hợp là khu đô thị đàn hồi, cộng sinh, kết hợp vùng kinh tế xanh, nâu và đàn hồi (nghĩa là có thể thu, co giãn với biến đổi khí hậu). Cuối cùng, có thể nói với vấn đề mới như này, chúng tôi cho rằng đô thị công nghiệp dịch vụ là BĐS công nghiệp sẽ tạo ra lối đi mới cho toàn bộ dân cư Việt Nam.

Như vậy, các NĐT có thể tài trợ, hỗ trợ các nhà khoa học để họ nghiên cứu và đưa ra được quy chuẩn, tiêu chuẩn. Tôi chưa cảm thấy có sự ưu đãi đầu tư thích hợp cho cộng đồng dân cư trong KCN này. Đối với nhà đầu tư và người dân công nhân, làm sao để mô hình KCN này giống như câu ca dao khu vực Nam Bộ: “Tới đây thì ở lại đây/Bao giờ bén rễ xanh cây mới về”. Hy vọng người dân, nhà đầu tư hòa thuận, hưởng lợi, và tạo thành các cộng đồng lớn mạnh.

Ông Trần Quốc Trung, Phó Vụ trưởng Vụ quản lý khu kinh tế: Về tiêu chí khu đô thị gắn liền với KCN, Nghị định 35 quy định khá rõ quy hoạch khu công nghiệp- khu đô thị – dịch vụ. Theo đó, nghị định có nêu rõ việc lập quy hoạch chung về các phân khu, các loại dự án nào được đầu tư vào KCN để ko ảnh hưởng đến đời sống người dân.

Đó là những dự án phải hải đáp ứng được yêu cầu về môi trường đã có quy định trong nghị định. Về quy định tỷ lệ đất khu đô thị bằng 1/3 khu công nghiệp, trên cơ sở này, có thêm hướng dẫn Bộ Xây dựng thì chúng ta hoàn toàn có thể làm được ngay.

Ví dụ như Vsip, Becamex đã và đang triển khai ở nhiều địa phương. Hiện nay các nhà đầu tư đang phân vân về việc có được làm nhà đầu tư cho cả khu công nghiệp – khu đô thị – dịch vụ hay không? Về việc này chúng ta chia ra về KCN thì giao đất chỉ định, còn đất cho khu đô thị thì tổ chức đấu thầu. Nếu một nhà đầu tư nào đó, đáp ứng đủ năng lực thì hoàn toàn có thể làm chủ đầu tư của cả khu.

Đề xuất mở rộng diện nhà đầu tư được làm nhà ở cho công nhân

TS. Nguyễn Anh Tuấn: Nói đến vấn đề phúc lợi xã hội công nhân, nhà ở công nhân, lâu nay là vấn đề được báo chí phản ánh rất nhiều, nhưng có vẻ như đáp ứng nhà ở công nhân còn xa so với mong muốn. Từ góc nhìn Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, ông có ý kiến gì, có đề xuất với các bộ, ngành để đẩy nhanh lên, xin mời ông Lê Văn Nghĩa, Trưởng ban Quản lý dự án xây dựng thiết chế công đoàn, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam?

Ông Lê Văn Nghĩa: Thủ tướng giao Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam về quyết định 655 thực hiện nhà ở công nhân ở khu công nghiệp, khu chế xuất. Tuy nhiên sau khi triển khai thì có 31 tỉnh có giới thiệu địa điểm cho TLĐ, nhưng đến nay chỉ có 2 tỉnh giao đất cho TLĐ thực hiện, song thủ tục pháp lý liên quan luật bị hạn chế rất nhiều, như luật đất đai không giao cho TLĐ làm nhà ở, do vậy chúng tôi đã dừng lại.

Sau đó, Thủ tướng đã ra quyết định lại là QĐ 1729 kết hợp với doanh nghiệp để làm trong khu tiết chế công đoàn với mô hình gồm nhà ở và khu văn hóa thể thao có khu vui chơi giải trí cho khu công nhân nên ở đó rất phù hợp. Tuy nhiên vẫn vướng mắc một số vấn đề như chúng tôi được giới thiệu địa điểm đất và có quy hoạch chi tiết nhưng chưa có giải phóng mặt bằng, dẫn đến tiến độ chậm. Quy hoạch quân khu gần như đều là cấp tầng nhà ở xã hội, dẫn đến khi doanh nghiệp vào đầu tư sẽ nâng số tầng lên, dẫn đến điều chỉnh phân khu, chậm tiến độ.

Hiện nay, Thủ tướng đang giao cho Bộ Xây dựng vấn đề liên quan đến các luật để đảm bảo tất cả các thành phần nghiên cứu được tham gia và xây dựng nhà ở xã hội cho công nhân. Ngày 1/8 vừa qua, Tổng Liên đoàn có đề xuất và Thủ tướng cho biết phải mở rộng diện các nhà đầu tư được xây dựng nhà ở cho công nhân.

Tới đây, chúng tôi sẽ xuống tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu để xem xét khu đất đó có phù hợp không để thực hiện luôn.

Thuê dịch vụ nhân sự đảm bảo nguồn lao động cho các KCN

TS. Nguyễn Anh Tuấn: Vấn đề cuối cùng, tình trạng thiếu hụt lao động, đặc biệt là lao động chất lượng cao ở trong các KCN, có mặt ở đây một chuyên gia về lĩnh vực này. Bà Lương Tú Anh, Tổng giám đốc Công ty TNHH Nodex Asia có thể cho biết giải pháp để đáp ứng nguồn cung về lao động cho các nhà đầu tư.

Bà Lương Tú Anh: Hiện tại, các DN nước ngoài đầu tư vào VN và DN VN đều sử dụng phương án để có nguồn nhân lực tốt cho DN. Một trong số các phương án hiệu quả là thuê ngoài dịch vụ nhân sự. Nhiều DN FDI đã có những kế hoạch trong việc sử dụng nhân sự thuê ngoài hàng năm.

Có những DN đặt mục tiêu 30-50% là thuê ngoài nhân sự. Hiện nay, nhân sự thuê ngoài có 3 xu hướng chính, đó là: Dịch vụ tuyển dụng, cung cấp tuyển dụng; cung cấp gói tìm kiếm CV; cung cấp gói tuyển dụng trọn gói… Một xu hướng phải kể đến là hành chính nhân sự, hợp thức lao động, thanh toán lương – các xu hướng phổ biến tại Việt Nam.

Chúng tôi đưa ra gói dịch vụ mới là HR-Operation, các DN có thể dùng gói nhân sự dịch vụ trọn gói, giống phòng nhân sự bên ngoài đầy đủ chức năng hành chính, tuyển dụng dụng, đào tạo, phát triển nhân sự/nhân tài…. Chúng tôi có dùng ứng dụng, quản lý phần mềm để giúp công tác quản lý minh bạch, hiệu quả cho các doanh nghiệp. Bên cạnh đó, các DN đều đặt ra mục tiêu phát triển hệ thống công nghệ, phần mềm mới để bắt kịp xu thế.

Nhiều DN đặt mục tiêu phần mềm quản lý khách hàng, chăm sóc khách hàng, tự động hóa…, những phần mềm và công cụ mới này đều có công đoạn phải đào tạo người sử dụng. Các DN đều có thời gian để chuẩn bị nguồn nhân lực nhằm đáp ứng đòi hỏi nhu cầu đổi mới trong hệ thống quản trị để đáp ứng công nghệ.

TS. Nguyễn Anh Tuấn: Các ý kiến chuyên gia trong phiên thảo luận này đã giải đáp được một số thắc mắc, kiến nghị nhà đầu tư. BTC rất mong đại diện các bộ, ngành sẽ tiếp tục đồng hành cùng các nhà đầu tư để làm sao tạo được môi trường đầu tư lành mạnh, cạnh tranh, một Chính phủ thân thiện, thực sự hành động “lót tổ đón đại bàng”. Qua Diễn đàn hôm nay, chúng ta đã được nghe những câu chuyện liên quan đến chính sách, quy trình đầu tư, cũng đã làm rõ hơn các quy định trong Nghị định 35. Tiếp nữa là vấn đề lao động trong các KCN, sự thiếu hụt lao động, cách giải quyết.

Chúng tôi rất mong các ý kiến phản ánh, kiến nghị chính sách của các nhà đầu tư tới các cơ quan chức năng sẽ được hệ thống phương tiện truyền thông đại chúng truyền tải một cách đầy đủ. Tạp chí Nhà đầu tư cũng sẵn sàng nghiên cứu ý kiến các vị đưa ra để tổng hợp và có thể kết nối hỏi đáp cơ quan chức năng giúp các nhà đầu tư trong câu chuyện giải quyết vấn đề gặp phải trong quá trình đầu tư nói chung và đầu tư vào các KCN nói riêng.